<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title> &#187; Uncategorized</title>
	<atom:link href="http://fanzung.com/?cat=1&#038;feed=rss2" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://fanzung.com</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Wed, 15 Apr 2026 14:45:52 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
		<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
		<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.0.24</generator>
	<item>
		<title>Protected: Tìm hiểu điển chế Nhà Nguyễn &#8211; Kiến trúc phủ đệ và lăng</title>
		<link>http://fanzung.com/?p=2820</link>
		<comments>http://fanzung.com/?p=2820#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Mar 2026 01:25:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://fanzung.com/?p=2820</guid>
		<description><![CDATA[There is no excerpt because this is a protected post.]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<form action="http://fanzung.com/wp-login.php?action=postpass" class="post-password-form" method="post">
<p>This content is password protected. To view it please enter your password below:</p>
<p><label for="pwbox-2820">Password: <input name="post_password" id="pwbox-2820" type="password" size="20" /></label> <input type="submit" name="Submit" value="Submit" /></p>
</form>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://fanzung.com/?feed=rss2&#038;p=2820</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chủ thể nhà Hạ là dân Việt cổ ?</title>
		<link>http://fanzung.com/?p=2778</link>
		<comments>http://fanzung.com/?p=2778#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 29 Aug 2024 03:53:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://fanzung.com/?p=2778</guid>
		<description><![CDATA[Bài này tôi đưa lên FB cá nhân lâu rồi. Do có liên quan đến chủ đề mới đưa lên ở bài trước &#8220;Thần Nông, Nghiêu, Thuấn đều là dân man di&#8221; nên tôi tập hợp về blog cá nhân này để các bài viết có tính hệ thống. Chú ý là trong bài trên [&#8230;]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><em>Bài này tôi đưa lên FB cá nhân lâu rồi.</em><br />
<em>Do có liên quan đến chủ đề mới đưa lên ở bài trước &#8220;<a href="http://fanzung.com/?p=2740">Thần Nông, Nghiêu, Thuấn đều là dân man di</a>&#8221; nên tôi tập hợp về blog cá nhân này để các bài viết có tính hệ thống. Chú ý là trong bài trên khi dẫn các tên Đế Nghiêu, Đế Thuấn .v.v. theo cú pháp thuận của tiếng Việt do thiếu thời gian nên tôi không dẫn nguồn sách, nay có thể nói rõ nguồn sách là Sơn Hải Kinh, một trong những sách cổ nhất của TQ.</em><br />
===</p>
<p>Về các vấn đề như người Việt tự nhận là dòng dõi Thần Nông, &#8220;nhận xằng&#8221; 12 con giáp có nguồn gốc từ tiếng Việt, &#8220;nhận xằng&#8221; cương vực nhà nước Văn Lang phía bắc tới tận hồ Động đình .v.v. nếu chính người Việt nói với nhau thì dễ bị chụp mũ là &#8220;tinh thần dân tộc cực đoan&#8221;, &#8220;sự ngộ nhận thảm thương&#8221;, &#8220;phản khoa học&#8221; chi chi gì gì ấy &#8230;<br />
Vì vậy về vấn đề này từ lâu tại hạ đã chủ ý nhất quyết không dẫn tư liệu ở sử sách Việt, mà chỉ lục tìm chính trong sách vở của Tàu để khỏi bị quy chụp này nọ.<br />
&#8212;</p>
<p>Vừa rồi tại hạ thấy 1 cuốn sách &#8220;Sơn hải kinh khảo cổ&#8221; trên mạng TQ có liên quan ít nhiều đến các vấn đề trên, phần giới thiệu (thay lời nói đầu) của sách đó có ở đây:</p>
<p><a class="x1fey0fg xmper1u x1edh9d7" href="http://luoyue.org/show.aspx?tid=a6e2148e-d67e-451f-b7f0-42916a7061c6">http://luoyue.org/show.aspx?tid=a6e2148e-d67e-451f-b7f0-42916a7061c6</a></p>
<p>(<em>Rất tiếc, link này ở bài gốc của tôi hơn 10 năm trước, đến hiện tại trang &#8220;Lạc Việt&#8221; này đã bị gỡ bỏ, chắc do các nhà cầm quyền bên TQ</em>)</p>
<p>Tại hạ xin &#8220;tóm lược của tóm lược&#8221; ra tiếng Việt như sau:<br />
&#8211; Sơn Hải Kinh là một cuốn sách cổ của TQ, ra đời vào đời Chu, hình thức là sách địa lý nhưng lại ghi chép cả những chuyện thần thoại từ rất xa xưa &#8230;<br />
&#8211; Cuốn sách &#8220;Sơn hải kinh khảo cổ&#8221; ở trên sau khi khảo cứu cách tư liệu trong Sơn hải kinh đi đến một nhận định quan trọng rằng chủ thể của nền văn hóa nhà Hạ là dân &#8220;tiên Việt&#8221; (người Việt cổ) (nguyên văn viết : &#8220;中国夏朝的主体是先越之民&#8221; &#8211; Trung Quốc Hạ triều chủ thể thị tiên Việt chi dân)</p>
<p>Một số luận cứ của sách đó là:</p>
<p>1- Dân cư nhà Hạ là nhóm dân tộc trồng lúa nước (稻 đạo, khác với lúa mì lúa mạch ở phương Bắc).</p>
<p>2- Dân cư nhà Hạ sử dụng ngôn ngữ Việt cổ làm công cụ giao tế, vì Sơn Hải Kinh ghi nhiều tên gọi thuận theo cú pháp tiếng Việt như Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ (Vua Nghiêu, Vua Thuấn, vua Vũ) &#8230; đều là theo cú pháp Việt, nếu theo Hán Ngữ thì phải đảo ngược là Nghiêu Đế, Thuấn Đế, Vũ Đế v.v.<br />
(Nói thẳng ra: thời đó ngôn ngữ của nhóm Hán-Tạng chưa phải là ngôn ngữ nhà nước được chấp nhận như ngày nay, ở Trung quốc thời đó có thể có nhiều dân tộc tiếng nói khác nhau, nhưng đều dùng tiếng Việt cổ làm ngôn ngữ giao tiếp chung !?)<br />
Cả Thiên can, Địa chi (12 con giáp) âm đọc cổ cũng là theo âm đọc tiếng Choang, Thái (Có lẽ người viết cuốn sách Tàu trên không biết hay đã lờ đi các bài viết của học giả Nguyễn Cung Thông rằng 12 con giáp có nguồn gốc gần với tiếng Việt (Kinh) hơn là tiếng Choang, Thái, có thể xem một bài ví dụ ở đây: &lt;<a href="https://nghiencuulichsu.com/2020/02/06/nguon-goc-viet-nam-cua-ten-12-con-giap-ti-chok-chut-chuot-10b/">link</a>&gt;</p>
<p>3- Phương thức &#8220;ngọc liễm táng&#8221; (liệm bằng ngọc khi chôn người chết) ở vùng kinh đô nhà Hạ (Tung Sơn, Trịnh Châu tỉnh Hà Nam) khi truy nguyên thì có từ thời văn hóa Lương Chử hơn 5000 năm trước.<br />
Mà Lương Chử gần Hàng Châu nằm ở phía Nam Trường Giang, vốn là đất Bách-Việt cổ.</p>
<p>Ảnh trang bìa cuốn sách &#8220;Sơn Hải Kinh khảo cổ&#8221;<br />
Hạ triều khởi nguyên dữ tiên Việt Văn hóa nghiên cứu.<br />
<a href="http://fanzung.com/wp-content/uploads/2024/08/Son-Hai-Kinh-Khao-Co.jpg"><img class=" wp-image-2779 aligncenter" src="http://fanzung.com/wp-content/uploads/2024/08/Son-Hai-Kinh-Khao-Co-223x300.jpg" alt="Son Hai Kinh Khao Co" width="239" height="321" /></a></p>
<p>* Nhân tiện bổ sung thêm một dữ liệu cũng từ sách của TQ :</p>
<p><em><strong>Sử ký của Tư Mã Thiên viết rằng Câu Tiễn (vua nước Việt cuối thời Xuân Thu) là con cháu vua Thiếu Khang nhà Hạ.</strong></em></p>
<p>Đây có lẽ là nguồn &#8220;chính thống&#8221; nhất minh chứng cho luận thuyết &#8220;Chủ thể nhà Hạ là dân Việt cổ&#8221;.</p>
<p>Nguyên văn trong Sử Ký, Việt vương Câu Tiễn thế gia :</p>
<p>越王句踐，其先禹之苗裔，而夏后帝少康之庶子也。封於會稽，以奉守禹之祀。Việt Vương Câu Tiễn , kì tiên Vũ chi miêu duệ , nhi Hạ hậu đế Thiếu Khang chi thứ tử dã. Phong ư Cối Kê , dĩ phụng thủ Vũ chi tự &#8211; (<em>Việt Vương Câu Tiễn là miêu duệ của vua Vũ, gốc từ con thứ của vua Thiếu Khang nhà hậu Hạ, được phong ở đất Cối Kê, để giữ việc thờ phụng vua Vũ)</em></p>
<p>&#8230;.</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://fanzung.com/?feed=rss2&#038;p=2778</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thần Nông, Nghiêu, Thuấn đều là dân man di ?</title>
		<link>http://fanzung.com/?p=2740</link>
		<comments>http://fanzung.com/?p=2740#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Jun 2024 13:57:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử địa]]></category>
		<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://fanzung.com/?p=2740</guid>
		<description><![CDATA[Tóm lược : Bài này có một phát hiện quan trọng: vua Thuấn là người Đông Di, tức là dân &#8220;man di&#8221; chứ không phải người Hoa Hạ. Thông tin này có nhiều hệ quả ghê gớm. Như sách &#8220;Sử ký&#8221; nói vua Thuấn nam vỗ yên Giao Chỉ, các tài liệu Trung Quốc hay [&#8230;]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Tóm lược :</strong><br />
Bài này có một phát hiện quan trọng: vua Thuấn là người Đông Di, tức là dân &#8220;man di&#8221; chứ không phải người Hoa Hạ.<br />
Thông tin này có nhiều hệ quả ghê gớm. Như sách &#8220;Sử ký&#8221; nói vua Thuấn nam vỗ yên Giao Chỉ, các tài liệu Trung Quốc hay nhắc đi nhắc lại điều đó, hàm ý rằng Giao Chỉ (tức Việt Nam thời cổ) thời xưa đã là đất thuộc TQ, chịu sự &#8220;giáo hóa&#8221; của người Hoa Hạ &#8230; nhưng giờ nếu không hiểu lộn ngược lại thì cũng phải xem xét lại cách suy diễn đó.<br />
Thêm nữa khi khảo thêm các cứ liệu ngôn ngữ và di truyền ADN thì có khả năng từ Thần Nông tới Nghiêu, Thuấn cũng đều là dân &#8220;man di&#8221;, cũng không phải người Hoa Hạ &#8230; gay go thật <img src="http://fanzung.com/wp-includes/images/smilies/icon_smile.gif" alt=":)" class="wp-smiley" /></p>
<p>Xem bài trên FB ở <a title="Xem trên FB" href="https://www.facebook.com/share/p/DHrE1Q1nKitAa6c4/?mibextid=oFDknk">link</a> :<br />
<a href="https://www.facebook.com/share/p/DHrE1Q1nKitAa6c4/?mibextid=oFDknk">https://www.facebook.com/share/p/DHrE1Q1nKitAa6c4/?mibextid=oFDknk</a></p>
<p><em>Do bài trên FB  dễ bị trôi đi  nên xin copy về blog cá nhân này (có chỉnh sửa):</em></p>
<p><span class="x193iq5w xeuugli x13faqbe x1vvkbs x1xmvt09 x1lliihq x1s928wv xhkezso x1gmr53x x1cpjm7i x1fgarty x1943h6x xudqn12 x3x7a5m x6prxxf xvq8zen xo1l8bm xzsf02u" dir="auto"><span class="x193iq5w xeuugli x13faqbe x1vvkbs x1xmvt09 x6prxxf xvq8zen xo1l8bm xzsf02u">Hôm nay tình cờ đọc lại sách Mạnh Tử thấy có câu này, nếu phân tích kỹ sẽ thấy nhiều điều để nói, (Theo Khâm Định Tứ khố toàn thư, Mạnh Tử Quyển 3-4, trang 91) :<br class="html-br" />&#8220;孟子曰:舜生於諸馮遷於負夏卒於鳴條<span class="html-span xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs"><b class="html-b xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs x1s688f">東夷</b></span>之人也 &#8211; <span class="html-span xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs"><i class="html-i xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs">Mạnh Tử viết: Thuấn sinh ư Chư Bằng thiên ư Phụ Hạ tốt ư Minh Điều, Đông Di chi nhân dã </i></span>&#8220;. (Mạnh Tử nói rằng vua Thuấn sinh ở Chư Bằng, thiên di tới Phụ Hạ chết ở Minh Điều, là người Đông Di vậy).<br class="html-br" />- Chư Phùng 諸馮 đọc theo cổ âm là Chư Bằng là vùng đất ở Sơn Đông, Trung Quốc : https://baike.baidu.hk/item/%E8%AB%B8%E9%A6%AE/9292151<br class="html-br" />- Mà cụ Bình Nguyên Lộc căn cứ các dữ liệu nghiên cứu chỉ số xương sọ thì viết rằng nhóm Đông Di ở vùng Hoa Đông, cụ thể là Sơn Đông cổ xưa vốn là người Việt thuần chủng.<br class="html-br" />- Tôi từng đưa lên nhóm này thông tin ở Sử ký sách ẩn của Tư Mã Trinh nói Viêm Đế dòng Thần Nông Thị ban đầu định đô ở đất Trần, sau dời về Khúc Phụ (kinh đô nước Lỗ thời Chu), như vậy truyền thuyết của người Việt nhận là dòng dõi Thần Nông có cơ sở, vì Khúc Phụ ở Sơn Đông vốn là vùng đất Đông Di, nhóm Thần Nông phải khác với nhóm Hoa Hạ gốc Hoàng Hà.<br class="html-br" />- Hãy để ý các tên Thần Nông, Đế Đồi, Đế Thừa, Đế Minh &#8230; (Dòng Thần Nông), cho đến Đế Nghiêu, Đế Thuấn đều theo cú pháp thuận như tiếng Việt (chữ Đế đặt trước) khác với tên Hoàng Đế của nhóm Hoa Hạ (chữ Đế đặt sau), như vậy việc các &#8220;đế&#8221; này là người Đông Di khác với Hoa Hạ là có cơ sở về mặt ngôn ngữ .<br class="html-br" />- Lại xét, Sử Ký của Tư Mã Thiên nguyên gốc không có Tam Hoàng, mà chỉ bắt đầu từ Hoàng Đế mà thôi, việc đưa các &#8220;đế&#8221; của các nhóm Bách Việt hay Đông Di vào chính sử TQ có lẽ bắt đầu diễn ra từ thời Hán, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất TQ và các nhóm Bách Việt ở Hoa Nam đã Hán hóa, hòa nhập vào xã hội TQ, còn vùng Hoa Đông (nhóm Đông Di) thì đã Hán hóa sớm hơn có lẽ từ giữa đời Chu ? <br class="html-br" />&#8212;<br class="html-br" />Xin xem ảnh, mấy chữ &#8220;Đông Di chi nhân dã&#8221; có gạch đỏ.<br />
<a href="http://fanzung.com/wp-content/uploads/2024/06/VuaThuanLaNguoiDongDi.jpg"><img class=" wp-image-2756 aligncenter" src="http://fanzung.com/wp-content/uploads/2024/06/VuaThuanLaNguoiDongDi-200x300.jpg" alt="VuaThuanLaNguoiDongDi" width="273" height="410" /></a><br class="html-br" /></span></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ảnh chụp trang sách của Bình Nguyên Lộc &#8220;Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam&#8221;, trong đó dòng nhận định &#8220;Hoa Đông (gốc Đông Di tức Việt thuần chủng)&#8221; :<br />
<a href="http://fanzung.com/wp-content/uploads/2024/06/SachBinhNguyenLoc.jpg"><img class=" wp-image-2768 aligncenter" src="http://fanzung.com/wp-content/uploads/2024/06/SachBinhNguyenLoc-154x300.jpg" alt="SachBinhNguyenLoc" width="258" height="503" /></a></p>
<p><span class="x193iq5w xeuugli x13faqbe x1vvkbs x1xmvt09 x1lliihq x1s928wv xhkezso x1gmr53x x1cpjm7i x1fgarty x1943h6x xudqn12 x3x7a5m x6prxxf xvq8zen xo1l8bm xzsf02u" dir="auto"><span class="x193iq5w xeuugli x13faqbe x1vvkbs x1xmvt09 x6prxxf xvq8zen xo1l8bm xzsf02u"><br class="html-br" /><span class="html-span xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs"><b class="html-b xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs x1s688f">Bổ sung:</b></span><br class="html-br" />&#8212;<br class="html-br" />1- Theo khảo chú ở trang đã dẫn trên về thôn Chư Bằng ở huyện Chư Thành, Sơn Đông https://baike.baidu.hk/item/%E8%AB%B8%E9%A6%AE/9292151 có viết : &#8220;清代學者焦循在《孟子正義》認為也在此地，雲：“今青州府有諸城縣，大海環其東北，説者以為即《春秋》書‘城諸’者&#8221;. Tạm dịch: Tiêu Tuần, một học giả thời nhà Thanh, trong &#8220;Mạnh Tử Chính Nghĩa&#8221; cho rằng: &#8220;Phủ Thanh Châu ngày nay có huyện Chư Thành, biển lớn bao quanh ở phía đông bắc. Người nói cho rằng đó là &#8220;Thành Chư&#8221; được viết trong kinh &#8220;Xuân Thu&#8221;.<br class="html-br" />Chịu khó phân tích thông tin này thì phát hiện ra cấu trúc tên gọi Thành Chư thời kinh Xuân Thu (Tây Chu) đảo ngược so với tên Chư Thành hiện nay, nhưng lại đúng cú pháp tiếng Việt (!!!) <br class="html-br" />Đây là thông tin khiến tôi đưa ra ý kiến cho rằng nhóm Đông Di đã Hán hóa về ngôn ngữ từ <span class="html-span xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs"><b class="html-b xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs x1s688f">giữa đời Chu</b></span> (ngoài ra tôi còn một số dữ liệu khác, từ từ sẽ đưa lên <span class="html-span xexx8yu x4uap5 x18d9i69 xkhd6sd x1hl2dhg x16tdsg8 x1vvkbs x3nfvp2 x1j61x8r x1fcty0u xdj266r xat24cr xgzva0m xhhsvwb xxymvpz xlup9mm x1kky2od"><img class="xz74otr" src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/t4c/1/16/1f642.png" alt="" width="16" height="16" /></span> )<br />
</span></span></p>
<p><span class="x193iq5w xeuugli x13faqbe x1vvkbs x1xmvt09 x1lliihq x1s928wv xhkezso x1gmr53x x1cpjm7i x1fgarty x1943h6x xudqn12 x3x7a5m x6prxxf xvq8zen xo1l8bm xzsf02u" dir="auto"><span class="x193iq5w xeuugli x13faqbe x1vvkbs x1xmvt09 x6prxxf xvq8zen xo1l8bm xzsf02u">2- </span></span>Khảo thêm về chữ Chư trong tên Chư Bằng, quê sinh của Đế Thuấn.</p>
<div class="xdj266r x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r x1vvkbs x126k92a">
<div dir="auto">- Thôn Chư Bằng ở huyện Chư Thành, thời Xuân Thu có tên là Thành Chư; cú pháp ngược với Hán Tạng ngữ mà lại thuận với tiếng Việt (và cả Thái-Kadai)</div>
<div dir="auto">- Nếu Đế Thuấn là dân Đông Di thì có khả năng Chư là từ gốc Việt, vậy phải tìm ý nghĩa của nó trong tiếng Việt chứ không phải Hán Tạng ngữ.</div>
<div dir="auto">- Xét tên nhân vật trứ danh thời Tam Quốc (mạt Hán) là Chư Cát Lượng 諸葛亮, tiếng Việt đọc là Gia Cát Lượng &#8230; thì cổ âm của Chư có thể là Gia.</div>
<div dir="auto">- Mà gia gia ở Hán ngữ tức là cha (bố) ở tiếng Việt</div>
<div dir="auto">- Lại xét, phục nguyên thượng cổ âm của chữ Chư 諸 theo nhà ngôn ngữ học W.Baxter là *tja , âm này có thể chuyển hóa ra hai âm là tía (là cha theo giọng Nam bộ, có thuyết cho là do ảnh hưởng của tiếng Mân Việt), và ja tức cha trong tiếng Việt chuẩn ngày nay (xin so sánh tên Java, người Việt gọi là Chà Và).</div>
<div dir="auto">- Như vậy tên Thành Chư thời Xuân Thu tức là Thành Cha theo tiếng Việt. Cách đặt tên này khá quen thuộc trong tiếng Việt, tương đương tên Cổ Loa tức Chạ Chủ theo kiến giải của GS Trần Trí Dõi, hay tên Làng Cả, kinh đô của nước Văn Lang thời cuối Hùng Vương theo nhiều thần tích và ngọc phả&#8230;</div>
</div>
<div class="x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r x1vvkbs xtlvy1s x126k92a">
<div dir="auto">* Tóm lại, có khả năng chư=cha ? (Xin nói rõ đây là một giả thuyết có thể của tác giả, không phải tiên đề hay định lý này nọ bắt người đọc phải chấp nhận )</div>
</div>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://fanzung.com/?feed=rss2&#038;p=2740</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nghiên cứu văn bản Nôm “Xuất gia sa di quốc âm thập giới”</title>
		<link>http://fanzung.com/?p=2733</link>
		<comments>http://fanzung.com/?p=2733#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 15 Dec 2023 06:28:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://fanzung.com/?p=2733</guid>
		<description><![CDATA[Bài đã đăng https://tapchinghiencuuphathoc.vn NNC.Phan Anh Dũng 1. Khái quát Việc phiên chú và giới thiệu văn bản Xuất gia sa di quốc Âm thập giới của Tổ Như Trừng Lân Giác[1] đã được tác giả Thích Minh Tâm đăng trong Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.435-439, (sau sẽ gọi là Bản A); về [&#8230;]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: left;">Bài đã đăng https://tapchinghiencuuphathoc.vn</p>
<p style="text-align: right;"><strong>NNC.Phan Anh Dũng</strong></p>
<p><strong>1. Khái quát</strong></p>
<p>Việc phiên chú và giới thiệu văn bản Xuất gia sa di quốc Âm thập giới của Tổ Như Trừng Lân Giác[1] đã được tác giả Thích Minh Tâm đăng trong Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.435-439, (sau sẽ gọi là Bản A); về sau lại được giới thiệu trong sách Chùa Liên Phái, danh lam nổi tiếng Hà Thành của TT. Thích Gia Quang[2] và GS. Nguyễn Tá Nhí, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2009 (sau sẽ ký kiệu là Bản B). Tuy nhiên đối chiếu với văn bản mà chúng tôi sưu tầm được (ký hiệu là Bản C) thì có khá nhiều sai lệch. Không kể những lỗi sai chắc do đánh máy hoặc in ấn như “tại nhân” gõ ra “tạo nhân” (câu 8 của bản B) hay “trâu cày” in lầm thành “trầu cày” (câu 232 của bản A) thì vẫn có nhiều chỗ sai biệt hẳn về văn từ, ngữ nghĩa, như câu 59 ở bản A là “bể ái hay hào”, bản B là “bể ái hay bào” thì bản C lại là “bể ái hay dào”, chữ nôm dào 滛 nghĩa là trào ra, dạt dào, dồi dào,… có vẻ đúng nghĩa hơn cả.</p>
<p>Vì vậy chúng tôi thấy nên khảo cứu dị bản giữa các bản trên, ngõ hầu cung cấp cho người đọc một bản chuẩn mực nhất, xứng đáng với công lao và tầm vóc của tổ Như Trừng Lân Giác trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.</p>
<p><strong>2. Khảo về văn bản</strong></p>
<p>Bản A được tác giả Thích Minh Tâm giới thiệu như sau: “Hiện ở chùa Liên Phái Hà Nội còn giữ được một bản in năm 1726. Toàn văn viết theo thể lục bát, lời văn súc tích, song cũng rất gần với lời ăn tiếng nói của dân. Đây có thể coi là văn bản Nôm thế kỷ 18, có niên đại xác định, cung cấp nhiều tài liệu có giá trị. Do vậy chúng tôi xin phiên âm giới thiệu toàn văn…” nhưng tiếc là tác giả không giới thiệu kèm ảnh chụp nguyên bản Nôm. Trong đợt đến số hóa văn bản ở chùa Liên Phái cuối năm 2022, chúng tôi cũng chưa được tiếp xúc văn bản Nôm này. Trao đổi với một số nhà nghiên cứu thì có ý kiến cho là bản A thực ra là bản B (xem giới thiệu bản B ở dưới), có thể tác giả Thích Minh Tâm đã nhầm.</p>
<p>Bản B cũng không in kèm nguyên bản chữ Nôm, ở cuối bản phiên âm này có câu ghi “Trùng san ngày tốt tháng 12 năm Đinh Tỵ niên hiệu Cảnh Thịnh 5 (1797)”, đối chiếu kho sách Viện nghiên cứu Hán Nôm thì đây là bản in theo ván khắc tại chùa Sùng Phúc, phủ Thường Tín, năm Cảnh Thịnh 5 (1797), 11 tr. Kí hiệu: AB.366. Có một thông tin đáng chú ý đó là bản AB.366 này còn có một bài tựa của Tổ Như Trừng cũng viết bằng chữ Nôm, rất quan trọng để giúp người đọc hiểu rõ về các giới phẩm Phật giáo gắn với ngũ giới, thập giới,… Cuối bài tựa đó ghi rõ niên đại là “Bảo Thái thất niên tuế tại Bính Ngọ (1726), Tân Sửu nguyệt, thập ngũ nhật. Thư vu Liên Tông tự Ly Trần Viện” và có con dấu “Lân Giác Sa môn”. Đây là một văn bản quan trọng mà các bản in sau này đều bỏ qua một cách đáng tiếc, vì vậy chúng tôi sẽ phiên chú đầy đủ bài tựa đó ở đoạn sau, theo đúng bản Nôm AB.366 ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.</p>
<p>Bản C nằm trong bộ Lễ tụng tập yếu chư nghi, đây là một bản in dạng “tuyển tập” gồm nhiều sách khác nữa nên khá dày. Sách chủ yếu là chữ Hán nhưng có kèm nhiều bản diễn âm ra chữ Nôm, chẳng hạn ngoài bản Sa di quốc âm thập giới dành cho bên tăng còn có bản quốc âm Sa di ni uy nghi dành cho bên ni, chúng tôi dự định sẽ phiên âm và giới thiệu ở một bài khác. Chúng tôi sử dụng bản in lại trong Việt Nam Phật điển tùng san, ở cuối sách đó có ghi là: Thành Thái thập tứ niên, tuế tại Nhâm Dần (1902), đó là năm in của sách gốc mà bộ Việt Nam Phật điển tùng san đã in lại.</p>
<p>Để bổ sung về văn bản chúng tôi còn có bản in từ ván lưu ở chùa Bổ Đà gồm 5 tờ (10 trang) khắc trên 5 ván, ở gáy sách chỉ khắc ngắn gọn 4 chữ là Quốc âm thập giới, sau sẽ gọi là bản D, niên đại của bản D hiện chưa xác định được, nhưng dựa vào một số chữ bản D giống với C mà khác với A, B thì bản D cũng là một bản muộn nhưng sớm hơn bản C (khoảng trước đời Thành Thái một chút).</p>
<p>Do bài văn không dài lắm nên 4 bản trên có lẽ cũng khá đủ để khảo chú và khôi phục tương đối sát nguyên tác.</p>
<p><strong>3. Về nội dung</strong></p>
<p>Như tiêu đề đã phản ánh rõ, đây là 10 giới luật của Sa di trong các sách Luật nghi chữ Hán được diễn ra quốc âm và ghi bằng chữ Nôm. Cụ thể 10 giới đó là : 1. Sát sinh, 2. Thâu đạo (trộm cắp), 3. Dâm dục, 4. Vọng ngôn, 5. Ấm tửu,  6. Hương hoa, 7. Xướng ca, 8. Cao sàng (tham giường chiếu cao sang), 9. Phi thời (tham ăn uống), 10 Tróc trì (tham tiền tài).</p>
<p>Thích Gia Quang và GS. Nguyễn Tá Nhí nhận xét: “Tổ Như Trừng được giáo dục rất nghiêm cẩn, nên vốn chữ nghĩa hiểu biết rất rộng. Sau khi xuất gia ngài được Tổ Chân Nguyên trao truyền giáo pháp, nên rất quan tâm đến kinh sách…”, ngài Thích Minh Tâm thì nhận định : “Toàn văn viết theo thể lục bát, lời văn súc tích, song cũng rất gần với lời ăn tiếng nói của dân…”, chúng tôi xin bổ sung một nhận xét nữa là lối văn súc tích, giản dị, bình dân đó có phong cách giống với lối văn của Tổ Chân Nguyên, người đã truyền tâm ấn cho Tổ Như Trừng. Cái hay trong bài văn này có lẽ là ở chỗ có các câu thành ngữ, tục ngữ bình dân được đưa vào và vận dụng khá nhuần nhuyễn như đoạn nói về giới thứ tư: “Có không bày đặt nên lời”, “Chỉ hươu rằng ngựa”, “nói vẻ vang”, “lưỡi hai chiều”, “giả tên dối họ”, “miệng hằng gang thép”, “dạ hằng gai chông”, “Ngàn vàng khôn chuộc”,… Ngoài ra, các từ cổ dùng trong bài cũng nên thống kê để phục vụ các nhà nghiên cứu, vì đã rõ được thời điểm sáng tác của tác phẩm này là năm 1726 nên dựa vào đó có thể so sánh đánh giá niên đại của các bản Nôm bị mất phần ghi năm in (nếu có các từ cổ tương tự).</p>
<p>Để các nhà nghiên cứu và mọi người có thêm tư liệu tìm hiểu về thân thế sự nghiệp và tấm lòng cao thượng của Tổ Như Trừng Lân Giác, chúng tôi xin phiên âm chú giải lại toàn bộ bài Luật nghi này, lấy bản C làm bản trục, vì bản này ở trong bộ Lễ tụng tập yếu chư nghi là sách rất phổ thông, đã được nhiều chùa in lại nhiều lần. Về hình thức trình bày, chúng tỗi vẫn dùng lại các chú giải xét thấy phù hợp của các TT. Thích Gia Quang và GS. Nguyễn Tá Nhí, chỉ bỏ vài chú thích không phù hợp với bản C mà chúng tôi chọn làm bản trục, và vẫn để chú thích ở cuối bài, còn những chú thích riêng của chúng tôi thì để ở chân trang. Khi chú thích chúng tôi cũng đã có chủ ý tránh trùng lặp với các vị tiền bối chẳng hạn về chữ cổ thì chúng tôi thiên về cách lý giải theo ngữ âm lịch sử.</p>
<p>Vì lời tựa ở cổ bản 1726 cũng rất quan trọng để hiểu rõ việc phân chia giới phẩm Phật giáo thành ngũ giới, thập giới,… nên chúng tôi cũng phiên chú đầy đủ và đưa vào để việc giới thiệu tác phẩm kinh điển này của Tổ Như Trừng Lân Giác được trọn vẹn.</p>
<p><strong>BÀI TỰA XUẤT GIA SA DI QUỐC ÂM THẬP GIỚI</strong></p>
<p>(Theo bản AB.366 lưu ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm)</p>
<p>Lân Giác Sa di Như Như Trừng Trừng phiên thích.</p>
<p>Thượng Phúc huyện, Sùng Phúc tự tàng bản.</p>
<p><strong>Tự:</strong></p>
<p>Giới là phép Bụt vậy. Bụt định làm giới phẩm bốn đàn. Cho thế nhân công phu ngày tháng tu tập tiến dần.</p>
<p>Đàn thứ nhất trao năm giới cho kẻ còn tại gia. Nam xưng rằng Ưu bà tắc, cũng xưng rằng Ổ ba sách già. Nữ xưng rằng Ưu bà di, cũng xưng rằng Ổ ba tư già. Ấy là giới phẩm thiện nam tín nữ đàn.</p>
<p>Thứ hai trao mười giới cho kẻ mới xuất gia. Nam xưng rằng Sa di tăng. Nữ xưng rằng Sa di ni. Ấy là giới phẩm tiểu tăng trường trai thế phát đàn.</p>
<p>Thứ ba nam thụ hai trăm năm mươi giới xưng rằng Tỉ khưu tăng, cũng xưng rằng Bật sô tăng. Nữ thụ năm trăm giới xưng rằng Tỉ khưu ni, cũng xưng rằng Bật sô ni. Vì nữ nhân tính đa tham dục, vậy nên giới luật gia bội. Ấy là giới phẩm đấng cao tăng.</p>
<p>Đàn thứ tư bốn trăm giới xưng rằng Bồ tát. Ấy là Tiến sĩ nhà thiền. Rất[3] phẩm tu hành. Sau nữa mới hầu tiến lên Phật.</p>
<p>Phật như quốc vương, giới như pháp luật, Tăng như triều thần. Quốc vương định pháp luật cho triều thần. Triều thần vâng pháp luật chưng[4] quốc vương, truyền pháp luật cho dân thứ. Thửa[5] rằng Phật pháp dữ vương pháp đồng. Tượng vi pháp ấy vậy.</p>
<p>Như Như thấy trong luật tạng giới pháp cẩn nghiêm, hội thấy[6] chúng tăng thụ trì thất thố. Hoặc có kẻ trường trai thế phát mà thụ năm giới phẩm tại gia, khiến cho kẻ tại thế tục gia thời chẳng có giới phẩm mà thụ. Hằng thấy thau vàng hỗn tạp, nhân chưng ngọc ít đá nhiều, chẳng thuyết[7] kẻ có biết mà chẳng tu, khá thương kẻ có lòng tu, mà thầy hổ[8] thầy chẳng truyền, mình nói mình chẳng biết.</p>
<p>Vậy Như Như thể lòng[9] từ mẫn, gác để chẳng đành, nhân cứ trong luật tạng mười giới xuất gia, ngụ[10] tiếng quốc âm, mở đường thuận tiện, tuy chẳng ích tới kẻ cao nhân đại sĩ, song cũng lợi cho người nhập học tiểu tăng. Nhẫn[11] có ai nhân đấy mà nên, thời Như Như vun (bón) cội Bồ đề, lau đài minh kính cũng là công vậy.</p>
<p>Thời Bảo Thái thất niên tuế tại Bính Ngọ Tân Sửu nguyệt thập ngũ nhật thư vu Liên Tông tự Ly Trần Viện.</p>
<p>(Cuối bài tựa có đóng hai con dấu:Dấu trên chữ khắc chìm: Lân Giác Sa Môn. Dấu dưới chữ khắc nổi có thể đọc: Thích Ấn Như Như, Như Như Thích Ấn, Thích Như Như Ấn.</p>
<p><em>Nhận xét của người phiên bản Nôm:</em> Bản Nôm nay là một ánh văn hay và khúc triết, ý tứ minh bạch rõ ràng, trừ vài từ hơi cổ ra thì người bình thường ngày nay đọc cũng hiểu được ngay. Văn hay nhờ có dùng một số ẩn dụ ví von khá bình dân, câu chữ tuy không đối chuẩn theo luật biền ngẫu nhưng vẫn có nhịp điệu dễ nghe dễ đọc, ví dụ “Phật như quốc vương, giới như pháp luật, Tăng như triều thần”, “Hằng thấy thau vàng hỗn tạp, nhân chưng ngọc ít đá nhiều” , “bón cội Bồ đề, lau đài minh kính”,…)</p>
<p><img class="penci-lazy size-full wp-image-15885 lazyloaded pcloaded" title="Nghiên cứu văn bản Nôm &quot;Xuất gia sa di quốc âm thập giới&quot; 8" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-1.jpg" alt="Tap Chi Nghien Cuu Phat Hoc Nghien Cuu Van Ban Nom Xuat Gia Sa Di Quoc Am Thap Gioi 1" width="297" height="387" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-1.jpg" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-1.jpg 297w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-1-269x350.jpg 269w" data-ll-status="loaded" /></p>
<p><strong>XUẤT GIA SA DI QUỐC ÂM THẬP GIỚI</strong></p>
<p>1. Lân Giác Sa di Như Như phiên dịch</p>
<p>Như Như vâng giáo Chân Nguyên</p>
<p>Diễn dương luật tạng lưu truyền lâu xa.</p>
<p>Lành thay kẻ mới xuất gia</p>
<p>5. Gượng trao mười giới gọi là Sa Di.</p>
<p>Trước đàn bốn nguyện ba qui</p>
<p>Thế trừ lĩnh lấy điền y vận mình.</p>
<p>Thứ nhất là giới sát sinh</p>
<p>Từ bi đạo ấy lưu tình tại[12] nhân.</p>
<p>10. Muôn loài hễ giống có thân</p>
<p>Thửa tình[13] muốn sống dễ phân khác[14] gì.</p>
<p>Cũng dòng một tính[15] linh tri.</p>
<p>Vẩy lông sừng vuốt hình tuy chẳng cùng.</p>
<p>Luân hồi chuyển kiếp khôn thông</p>
<p>15. Hoặc là cha mẹ vợ chồng anh em.</p>
<p>Đổi thân lạ dấu khôn tìm</p>
<p>Lộn vào sâu bọ muông chim khác loài.</p>
<p>Giết lầm ăn lỡ dông dài</p>
<p>Trả ân làm oán bao nài nghiệp duyên.</p>
<p>20. Vậy nên điện bụt am thiền</p>
<p>Tiếc ngài phải dạy[16] che đèn há nga[17].</p>
<p>Nước ăn lấy vải lọc qua</p>
<p>Bước đi phòng kẻo xông pha đạp giày[18].</p>
<p>Chớ nuôi muông[19], giữ trâu cày</p>
<p>25. Gửi lòng không khó[20] ăn mày thập phương.</p>
<p>E trừ sâu lá bọ tương</p>
<p>Thuốc dùng thảo mộc kẻo phương vật loài.[21]</p>
<p>Thâu đạo là giới thứ hai</p>
<p>Ngay lòng lọ phải then cài chửa tin.</p>
<p>30. Một tơ xem bẵng[22] muôn nghìn</p>
<p>Của người chẳng những bạc tiền mới răn.</p>
<p>Chẳng cho chẳng lấy làm ngần[23]</p>
<p>Cành cây ngọn cỏ mỗ phân mựa hề[24]</p>
<p>Kinh rằng: “Một gã Sa di</p>
<p>35. Trộm bánh tăng chúng trai thì ba phen.</p>
<p>Một Sa di trộm đường phèn</p>
<p>Vật khinh tình trọng ngỡ hèn[25] chẳng phân.</p>
<p>Một Sa di trộm trái[26] ăn</p>
<p>Ba người ấy phải đọa thân tam đồ</p>
<p>40. Khuyên ai ai nghĩ đấy cho</p>
<p>Liếc gương kẻ trước mà tu sửa mình</p>
<p>Nếu còn vật mắt gian manh[27]</p>
<p>Lọn đời chay lạt công trình bỏ đâu</p>
<p>Răn lòng chẳng những xuyên thâu</p>
<p>45. Tổn nhân ích kỷ thấy âu chớ làm</p>
<p>Bao giờ lọt khỏi[28] nguồn tham</p>
<p>Độ mình mới biết trần phàm khác xa</p>
<p>Dâm dục[29] là giới thứ ba</p>
<p>Cổ kim biết[30] mấy tay già chịu non.</p>
<p>50. Đã rằng bỏ rẻ vợ con</p>
<p>Tăng phòng sao có khuê môn tảo tần.</p>
<p>Nếu mà dục giới đã gần</p>
<p>Máy Thiền dễ động khôn phân cõi bờ.</p>
<p>Tấc mây vầng nguyệt nên mờ</p>
<p>55. Vô tâm đổi[31] cảnh bao giờ chửa hay.</p>
<p>Hái ba năm đốt một giây</p>
<p>Dái khi tiếc[32] củi mà cây chẳng còn.</p>
<p>Vật chi nguyệt phấn hoa son[33]</p>
<p>Khứng mài gan sắt cho mòn cớ sao.</p>
<p>60. Ví như[34] bể ái hay dào[35]</p>
<p>Chớ thì còn gửi[36] mình vào làm chi.</p>
<p>Kinh rằng: “Có bật sô ni,</p>
<p>Mộng lòng dâm dục lại khi pháp màu</p>
<p>Rằng dâm chẳng sát chẳng thâu.</p>
<p>65. Hại người chẳng có tội đâu tới[37] mình.</p>
<p>Bỗng không mãnh hỏa tự sinh</p>
<p>Phút giây cháy hết thân hình chẳng dư”.</p>
<p>Vọng ngôn là giới thứ tư</p>
<p>Chẳng cho hư thực thực hư dối người.</p>
<p>70. Có không bày đặt nên lời</p>
<p>Chỉ hươu rằng ngựa tơi bời dọc ngang</p>
<p>Ỷ ngữ là nói vẻ vang[38]</p>
<p>Quyến người động dục mua thương chác hờn.</p>
<p>Phỉnh phờ thêu dệt dỗ mơn</p>
<p>75. Khiến lòng đá sắt nên sờn nên xiêu.</p>
<p>Lưỡng thiệt là lưỡi hai chiều</p>
<p>Ở đây nói đó xui yêu kết thù.</p>
<p>Miệng bằng tráo trở[39] xiểm vu[40]</p>
<p>Giả tên dối họ bôn xu chẳng thường.</p>
<p>80. Ác khẩu là nói[41] dữ dàng</p>
<p>Đe loi[42] chửi mắng được càng tranh năng.</p>
<p>Hại người gươm giáo đâu bằng</p>
<p>Miệng hằng gang thép dạ hằng gai chông.</p>
<p>Khẩu nghiệp vốn ấy[43] gian hùng</p>
<p>85. Diệt trừ khỏi cả mới mong tót vời</p>
<p>Ngàn vàng khôn chuộc một lời</p>
<p>Ví rằng nói khó chẳng chơi chớ lầm.</p>
<p>Ấm tửu là giới thứ năm</p>
<p>Kẻo cho cuồng dược bá xâm tính thường.</p>
<p>90. Để cho trí tuệ chủ trương</p>
<p>Kẻo hao tinh huyết kẻo thương khí thần.</p>
<p>Hãy suy từ cõi hương lân[44]</p>
<p>Xưa nay vì rượu bỏ thân mấy người.</p>
<p>Thần men một đoạn vui cười</p>
<p>95. Tính mình khác đã năm mười dặm xa [45]</p>
<p>Lại thêm rủ nguyệt quyến hoa</p>
<p>Trong khi chẳng tỉnh, ai là có khôn.</p>
<p>Huống đà đứng cửa sa môn</p>
<p>Thế gian một tiếng suy tôn là Thày.</p>
<p>100. Tròn đầu vuông áo dường này</p>
<p>Mộng trần chửa tỉnh còn say lấy gì?</p>
<p>Trăm năm thể đã định kỳ</p>
<p>Tưởng rằng rùa hạc thực thì thước gang[46].</p>
<p>Sá tua phản chiếu hồi quang</p>
<p>105. Tỉnh hồn trong giấc hoàng lương mới màu</p>
<p>Còn mang thuốc dại trong bầu</p>
<p>Thì mê hồ điệp thể âu đến già.</p>
<p>Thứ sáu là giới hương hoa</p>
<p>Hình dung chẳng được lượt là điểm trang.</p>
<p>110. Cho hay thì sự vẻ vang</p>
<p>Thoáng qua vẫn tựa một tràng mộng xuân.</p>
<p>Hoa trước mắt, vật ngoài thân</p>
<p>Vô mùi mà lại có phân động tình</p>
<p>Ví dù giới tịnh tuệ minh</p>
<p>115. Hương nào hơn nữa hương mình thơm tho.</p>
<p>Áo xiêm thì dùng vải thô</p>
<p>Ruột tằm lông thú chẳng cho đoái hoài</p>
<p>Thói thường tía lạt thắm[47] phai</p>
<p>Ta thì áo vải chỉ gai đạo bền.</p>
<p>120. Cho hay dòng bụt giống tiên</p>
<p>Giày[48] rơm nón lá cũng nên chẳng nề.</p>
<p>Thế tình bỗ bã rằng quê</p>
<p>Ta xưng nạp tử dầu chê mặc lòng</p>
<p>Đòi khi[49] bia tạc ấn phong</p>
<p>125. Nghiệm thay hễ sắc thì không có gì.</p>
<p>Nghĩ câu “nhất thiết hữu vi”</p>
<p>Mà xem lọ phải nói[50] chi nữa là</p>
<p>Thứ bảy là giới xướng ca</p>
<p>Kẻo cho tơ trúc xâm pha tính tình.</p>
<p>130. Hễ loài cầm sắt tiêu sênh</p>
<p>Cùng nơi múa hát dập dình nhởn nhơ</p>
<p>Miễn loài đánh đáo bạc cờ</p>
<p>Cùng nơi điếm rượu lầu thơ chơi bời.</p>
<p>Tăng Ni tu chửa trọn đời</p>
<p>135. Giữ cầm giới pháp mựa dời bản chân.</p>
<p>Chẳng nghe vả chẳng tới gần</p>
<p>Lánh mình cho tuyệt thanh trần mới yêu[51].</p>
<p>Gì hơn suối chảy thông reo</p>
<p>Thanh cao đã gác trần hiêu[52] mới tìm.</p>
<p>140. Yên vui mà chẳng hoang dâm</p>
<p>Lại thêm sảng khí dưỡng tâm ngụ nhàn</p>
<p>Kệ mầu câu nhiệm muôn vàn</p>
<p>Màng chi thanh sắc trong đoàn lợi danh</p>
<p>Số là hằng thuận chúng sinh</p>
<p>145. Cho nên lại phải diễn kinh làm đàn</p>
<p>Khoa nghi lễ nhạc bách ban</p>
<p>Mở quyền ra độ thế gian đạo tràng.</p>
<p>Thứ tám là giới cao sàng</p>
<p>Dựng lề khiêm hạ dứt đường kiêu căng.</p>
<p>150. Phép xưa giường dùng đằng thằng</p>
<p>Như Lai tám ngón đo bằng chẳng qua.</p>
<p>Cao hơn thì phạm há nga[53]</p>
<p>Sá tua gìn giữ tiết ta chớ dời</p>
<p>Nơi ngồi, nằm, chốn nghỉ ngơi</p>
<p>155. Mựa dùng trạm trổ vẽ vời gấm thêu.</p>
<p>Thuở xưa đệm cỏ ngồi hiêu[54]</p>
<p>Nằm hang ở núi còn nhiều vẻ hay</p>
<p>Huống chi dõi xuống đời nay</p>
<p>Đã cao giường phản lại dày[55] chiếu chăn.</p>
<p>160. Hơn xưa biết đã mấy phân</p>
<p>Lọ là rộng rãi sắc thân làm gì</p>
<p>Quốc sư tích cũ còn ghi</p>
<p>Trầm hương toà báu nhân vì vua ban.</p>
<p>Làm cho mười kiếp nghiệp oan</p>
<p>165. Lại lo báo[56] được tai nàn mới xong.</p>
<p>Ví dù chẳng chút sai lòng</p>
<p>Oan hồn Triều Thác còn ngong lấy[57] gì.</p>
<p>Thứ chín là giới phi thì</p>
<p>Cứ từ nhật ngọ làm kỳ bữa chay.</p>
<p>170. Một rằng thiên thực rạng ngày</p>
<p>U đồ[58] ngã quỷ nghiệp đầy về âm</p>
<p>Nếu nghe khua bát động mâm</p>
<p>Dạ thèm dậy lửa cháy xâm yết hầu.</p>
<p>Vả còn ý nhiệm cơ mầu</p>
<p>175. Ngụ trong giới ấy để sau mật truyền</p>
<p>Hễ đà lạc phát tu thiền</p>
<p>Ăn từ bán nhật dĩ tiền mà thôi[59].</p>
<p>Bui khi thời khí xảy xui</p>
<p>Giá[60] sương nắng gió phỉ phui[61] chẳng hằng</p>
<p>180. Sự chăng được chớ há rằng[62]</p>
<p>Bấy giờ giới ấy dường bằng bỏ rơi</p>
<p>Thửa trong giây phút biến dời</p>
<p>Rộng cho khi có mặt trời cũng nên[63].</p>
<p>Đã lành lại giữ cho tuyền</p>
<p>185. Xuất gia giới luật mười thiên rạch ròi.</p>
<p>Ngoan tăng sao bỗng quen mui</p>
<p>Bảo nhau nói lý mà lui khá cười.</p>
<p>Tróc trì là giới thứ mười</p>
<p>Chẳng nề phân biệt của người của ta.</p>
<p>190. Bạc vàng châu báu ngọc ngà</p>
<p>Tơ hào chẳng được tay tra[64] bắt cầm.</p>
<p>Giống hay hoặc tính mê tâm[65]</p>
<p>Gây tham mống hoạ cổ câm (kim) đùng đùng.</p>
<p>Mượn gương người Khải người Sùng</p>
<p>195. Giơ xem phải thấy vô dùng hay chăng.</p>
<p>Huống chi bỏ tục làm tăng</p>
<p>Nam minh đã quyết côn[66] bằng hoá bay.</p>
<p>Một bình một bát lọn tay</p>
<p>Dày mỏng và[67] tấm đổi thay đông hè.</p>
<p>200. Tuyết sương thì đói bụng ve</p>
<p>Chẳng cầu yêu trọng, chẳng e khấu thù.</p>
<p>Gió xuân đắp đổi trăng thu</p>
<p>Mặc dầu thích ở ngao du rừng thiền.</p>
<p>Nương nhờ phúc lộc tự nhiên</p>
<p>205. Cửa nhà cơm áo tuỳ duyên thế tình.</p>
<p>Dầu ai đon hỏi[68] lợi danh</p>
<p>Lắc đầu biếng thốt xưng mình bần tăng. [69]</p>
<p>Sắt son một tấm lòng hằng</p>
<p>Giữ mười giới ấy khăng khăng chớ dời</p>
<p>210. Bao giờ trong sạch cả mười</p>
<p>Vậy sau sẽ nhắc lên vời (vị) Tỉ khiêu.</p>
<p>Tỉ khiêu giới đã vẹn thâu</p>
<p>Thì Bồ tát giới mới hầu bước lên.</p>
<p>Bấy giờ giới túc công viên</p>
<p>215. Thần khâm quỷ phục đích nên Tăng già.</p>
<p>Thẳng lên chín phẩm đài hoa</p>
<p>Ngõ đền thửa chí xuất gia bấy chầy</p>
<p>Thiết vì mười giới trước nay</p>
<p>Xa đường nặng gánh ghê thầy phao tuông.</p>
<p>220. Trí ta bền giữ chớ buông</p>
<p>Đúc mười giới ấy ba vuông bảy tròn.</p>
<p>Nguyện dĩ thử công đức</p>
<p>Tiêu không vãng thế khiên</p>
<p>Quang hiển hiện thế nhân</p>
<p>Viên thành lai thế quả</p>
<p>Chân Nguyên thường hạo hạo</p>
<p>Tính tướng tự Như Như</p>
<p>Dữ pháp giới chúng sinh</p>
<p>Đồng đăng hoa tạng giới</p>
<p>Dịch ý:</p>
<p>Nguyện đem công đức này</p>
<p>Trừ hết tội kiếp trước</p>
<p>Làm hiện nhân đời nay</p>
<p>Hoàn thành quả sắp tới</p>
<p>Chân Nguyên thường bát ngát</p>
<p>Tính tướng tự Như Như</p>
<p>Cùng chúng sinh pháp giới</p>
<p>Bước sang cõi hoa tạng.</p>
<p>Trùng san ngày tốt tháng 12 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Cảnh Thịnh 5 (1797).</p>
<p><em>Phần Chú thích của các cụ Thích Gia Quang, Nguyễn Tá Nhí: (chúng tôi bỏ vài chú thích không phù hợp với bản C mà chúng tôi lấy làm bản trục, và các chú thích về từ cổ vì đã lập bảng kê từ cổ riêng)</em></p>
<p>1. Chân Nguyên: tức Chân Nguyên hoà thượng, pháp danh Tuệ Đăng, một vị cao tăng đời Lê, biên soạn trước thuật rất nhiều.</p>
<p>2. Diễn dương: diễn Nôm để hoằng dương</p>
<p>3. Gượng: tạm thời.</p>
<p>6. Thế trừ: cắt tóc</p>
<p>Điền y: áo của nhà sư</p>
<p>Vận mình: mặc vào người</p>
<p>7. Lưu tình tại nhân: để tình cảm vào nhân ái</p>
<p>11. Linh trị: hiểu biết</p>
<p>12. Vẩy lông sừng vuốt: chỉ các loài cá chim thú</p>
<p>13. Khôn thông: khó thông tỏ hết</p>
<p>15. Đổi thân: thay đổi thân làm kiếp khác</p>
<p>20. Ngài: sâu bọ, con thiêu thân.</p>
<p>23. Muông: chó giữ nhà</p>
<p>24. Không khó: trống rỗng, nghèo nàn, không có gì</p>
<p>26. Phương hại: tổn hại</p>
<p>27. Thâu đạo: trộm cắp</p>
<p>28. Ngay lòng: lòng ngay thẳng</p>
<p>29. Một tơ: một sợi tơ, một chút</p>
<p>31. Mầu: mẫu mực, khuôn thước</p>
<p>34. Trai thì: đồ ăn chay đúng thì</p>
<p>38. Tam đồ: ba đường ác gồm ngã quỷ, súc sinh, địa ngục</p>
<p>44. Tổn nhân: hại người khác</p>
<p>46. Độ mình: tự cứu độ cho bản thân mình.</p>
<p>Trần phàm: cõi phục tục ở trần gian</p>
<p>53. Vầng nguyệt: vầng trăng, ý nói một tấc mây cũng che mờ vầng trăng.</p>
<p>63. Chẳng sát chẳng thâu: Không sát sinh không trộm cắp</p>
<p>65. Mãnh hoả: lửa cháy mạnh, ý nói lửa mạnh tự sinh ra cháy đốt sạch chẳng còn gì.</p>
<p>70. Chỉ hươu bằng ngựa: Triệu Cao, tướng của nhà Tần, tác oai tác phúc, cho người dắt hươu qua sân rồi chỉ vào bảo đó là ngựa. Các quan sợ oai Triệu Cao đành phải nói theo là ngựa.</p>
<p>72. Quyến người động dục: xúi giục người ta động lòng ham muốn</p>
<p>78. Bôn xu: chạy vạy.</p>
<p>88. Cuồng dược: thuốc độc, thuốc điên dại</p>
<p>Bá xâm: dính dáng đến, phạm vào.</p>
<p>93. hần men: thần rượu</p>
<p>102. Rùa hạc: hai loài vật sống rất lâu, người xưa dùng để ví với việc người sống lâu.</p>
<p>104. Hoàng lương: giấc mộng kê vàng, ý nói công danh phú quý ở đời chỉ ngắn ngủi bằng giấc mơ.</p>
<p>106. Hồ điệp: bươm bướm. Trang Chu nằm mơ không biết mình hoá ra bướm hay bướm hoá ra mình.</p>
<p>112. Vô mùi: không có mùi vị</p>
<p>114. Giới tịnh tuệ minh: giới luật thanh tịnh, trí tuệ minh mẫn</p>
<p>122. Nạp cử: chỉ thiền tăng, vì các vị thiền tăng thường hay mặc áo nạp y để đi đây đó thuyết pháp.</p>
<p>123. Ân phong: ban cho ấn tín, phong cho chức tước, ý nói được làm quan, hưởng vinh hoa phú quý.</p>
<p>125. Nhất thiết hữu vi: tất cả mọi việc làm</p>
<p>128. Tơ trúc: đàn sáo</p>
<p>129. Cầm sắt tiêu sênh: tên bốn thứ nhạc cổ</p>
<p>140. Ngụ nhàn: hưởng nhàn, ý nói sống ở nơi yên ắng thì tâm tính được an dưỡng thanh nhàn.</p>
<p>141. Kệ mầu câu nhiệm: kinh kệ rất mầu nhiệm.</p>
<p>145. Bách ban: trăm loại</p>
<p>148. Khiêm hạ: khiêm tốn nhún nhường</p>
<p>149. Đằng thằng: dây mây để đan giường</p>
<p>150. Chẳng qua: không vượt qua.</p>
<p>152. Tiết ta: tiết chế bản thân</p>
<p>166. Triều Thác: tên một viên quan đời cổ của Trung Quốc, bị oan khuất nên khi chết oan hồn đòi báo thù.</p>
<p>168. Nhật ngọ: giữa trưa</p>
<p>169. Thiên thực: bữa ăn của trời</p>
<p>170. Ngã quỷ: quỷ đói</p>
<p>172. Xâm: lấn tới</p>
<p>175. Lạc phát: cắt tóc</p>
<p>176. Bán nhật dĩ tiền: từ nửa ngày trở về sớm, ý nói sư tăng chỉ được ăn từ trưa trở về sáng. Còn nếu sau buổi trưa mà ăn là phi thì thực.</p>
<p>178. Hằng: thường, thường lệ</p>
<p>187. Tróc trì: nắm giữ</p>
<p>191. Hoặc tính mê tâm: tâm tính mê hoặc</p>
<p>193. Người Khải người Sùng: tức Vương Khải và Thạch Sùng, hai phú gia giầu có đời Tấn ở Trung Quốc.</p>
<p>196. Nam minh: biển nam</p>
<p>Côn bằng: tức cá côn và chim bằng. Theo truyền thuyết cổ, cá côn và chim bằng tượng trưng cho loài có chí lớn.</p>
<p>213. Giới túc công viên: đầy đủ giới luật, công đức và viên mãn.</p>
<p><strong>4. Phụ lục: Liệt kê các từ cổ dùng trong bài:</strong></p>
<p>Có thể chia thành 2 nhóm:</p>
<p><em>1. Nhóm các từ cổ ngày nay không dùng nữa hoặc ít dùng;</em></p>
<p><em>2. Các từ hiện còn dùng nhưng nghĩa trong bài là nghĩa cổ, khác nghĩa hiện nay.</em></p>
<p>– Nhác (có ở bản A). Nếu không phải đánh máy nhầm thì có lẽ là một dạng cổ âm của khác.</p>
<p>– Nga là từ cổ nghĩa là chơi bời, còn hàm ý bừa bãi, há nga là “há chơi”</p>
<p>– Ngần là ngấn, là mức, ý nói phải có khuôn phép, ngấn dùng trong bài này là một cách nói cổ</p>
<p>– Mỗ là mấy, chút. Khả năng từ nguyên là “mỗi” (“một”).</p>
<p>– Mựa là chớ. Khả năng từ nguyên của mựa là chữ vô 無 Hán ngữ.</p>
<p>– Hèn: kém cỏi không quan trọng, bản D ghi bằng chữ nhàn 閑 phản ánh cổ âm có lẽ đọc gần như “nhèn”, cách ghi này có từ thời thơ Quốc Âm Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông.</p>
<p>– Ngong (từ cổ): trông ngóng.</p>
<p>– Sá tua (từ cổ): nên, cần phải</p>
<p>– Miễn (từ cổ): và, cùng. Cổ âm có thể là m-lẫn dẫn đến cách ghi và đọc là miễn, hiện nay đọc thành lẫn như trong cách nói “cả A lẫn B”.</p>
<p>– Bản C ghi quả, còn các bản A,B,D đều ghi trái là từ cổ hơn.</p>
<p>– Vật mắt : là một cách nói cổ.</p>
<p>– Bào (ở bản B): khả năng bào 泡 là một dạng ghi âm hay biến âm của trào 潮.</p>
<p>Xét ví dụ chữ Nôm “trả”, nhiều sách Nôm cổ ghi bằng chữ Hán bả 把, do tiếng Việt cổ có tổ hợp âm đầu kép b-l- nếu -l- suy giảm thì sẽ còn lại b- (blả=&gt;bả). Sau này ở tiếng Việt tổ hợp b-l- biến mất thay bằng gi- ứng với cách đọc “giả” hiện còn dùng ở nhiều địa phương Bắc Bộ, hay chuyển thành t-l rồi thành tr- ứng với cách đọc “trả” phổ thông ngày nay. Từ phân tích đó thì cổ âm của trào có thể là b-lào và có một biến âm khả dĩ là giào, như vậy chữ dào 滛 ở bản C có lẽ nguyên phải đọc là giào mới đúng.</p>
<p>– Vẻ vang: là từ cổ, nghĩa là hào nhoáng bề ngoài, khác nghĩa ngày nay.</p>
<p>– Đe loi: Từ cổ nhưng ý nghĩa chưa rõ lắm, âm đọc cũng cần khảo cứu lại.</p>
<p>– Đòi thì, đòi khi: là cách nói cổ nghĩa là nhiều khi.</p>
<p>– Hiêu 囂 chỉ dáng vẻ ung dung thong thả của người đạt đạo (chữ này cổ, không chỉ ngày nay mà cả nhiều tác phẩm Nôm thời xưa cũng ít gặp).</p>
<p>– Bui : một, duy, chỉ, còn dùng làm từ đệm. Bui khi: một khi, có khi.</p>
<p>– Phỉ phui hay bẻ bui chỉ sự xúi quẩy không suôn sẻ.</p>
<p>– Và là từ cổ nghĩa là vài (một vài), vốn là một biến âm của vài.</p>
<p>– Thửa : Từ đệm cổ (vốn là chữ sở 所 của Hán Ngữ).</p>
<p>– Đon hỏi (bản C), là từ cổ có trong một số phiên bản Truyện Kiều.</p>
<p>– Muông: chó giữ nhà, từ cổ ngày nay ít dùng, chỉ còn dùng trong từ kép muông thú.</p>
<p>– Không khó: trống rỗng, nghèo nàn, không có gì. Là cách nói cổ.</p>
<p>– Bẵng (từ cổ): bằng, giống như</p>
<p>– Mầu: mẫu mực, khuôn thước</p>
<p>– Dái (từ cổ): e, sợ (rằng)</p>
<p>– Khứng (từ cổ): chịu, chịu khó</p>
<p>– Chác (từ cổ): mua.</p>
<p>– Ngõ (từ cổ): ngõ hầu.</p>
<p><strong>NNC.Phan Anh Dũng</strong></p>
<p>***</p>
<p><em>1. Quốc âm thập giới, in từ ván chùa Bổ Đà (tài liệu sưu tầm).</em></p>
<p><img class="penci-lazy size-full wp-image-15886 lazyloaded pcloaded aligncenter" title="Nghiên cứu văn bản Nôm &quot;Xuất gia sa di quốc âm thập giới&quot; 9" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-2.jpg" alt="Tap Chi Nghien Cuu Phat Hoc Nghien Cuu Van Ban Nom Xuat Gia Sa Di Quoc Am Thap Gioi 2" width="480" height="402" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-2.jpg" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-2.jpg 480w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-2-350x293.jpg 350w" data-ll-status="loaded" /></p>
<p><strong>Phụ lục:</strong> Nguyên bản chữ Nôm, bản D in từ ván khắc lưu ở chùa Bổ Đà</p>
<p><img class="penci-lazy aligncenter size-full wp-image-15887 lazyloaded pcloaded" title="Nghiên cứu văn bản Nôm &quot;Xuất gia sa di quốc âm thập giới&quot; 10" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-3.jpg" alt="Tap Chi Nghien Cuu Phat Hoc Nghien Cuu Van Ban Nom Xuat Gia Sa Di Quoc Am Thap Gioi 3" width="800" height="602" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-3.jpg" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-3.jpg 800w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-3-350x263.jpg 350w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-3-768x578.jpg 768w" data-ll-status="loaded" /> <img class="aligncenter size-full wp-image-15888 entered litespeed-loaded" title="Nghiên cứu văn bản Nôm &quot;Xuất gia sa di quốc âm thập giới&quot; 11" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-4.jpg" alt="Tap Chi Nghien Cuu Phat Hoc Nghien Cuu Van Ban Nom Xuat Gia Sa Di Quoc Am Thap Gioi 4" width="800" height="582" data-lazyloaded="1" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-4.jpg" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-4.jpg 800w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-4-350x255.jpg 350w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-4-768x559.jpg 768w" data-sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" data-ll-status="loaded" /> <img class="aligncenter size-full wp-image-15889 entered litespeed-loaded" title="Nghiên cứu văn bản Nôm &quot;Xuất gia sa di quốc âm thập giới&quot; 12" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-5.jpg" alt="Tap Chi Nghien Cuu Phat Hoc Nghien Cuu Van Ban Nom Xuat Gia Sa Di Quoc Am Thap Gioi 5" width="800" height="600" data-lazyloaded="1" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-5.jpg" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-5.jpg 800w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-5-350x263.jpg 350w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-5-768x576.jpg 768w" data-sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" data-ll-status="loaded" /> <img class="aligncenter size-full wp-image-15890 entered litespeed-loaded" title="Nghiên cứu văn bản Nôm &quot;Xuất gia sa di quốc âm thập giới&quot; 13" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-6.jpg" alt="Tap Chi Nghien Cuu Phat Hoc Nghien Cuu Van Ban Nom Xuat Gia Sa Di Quoc Am Thap Gioi 6" width="800" height="600" data-lazyloaded="1" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-6.jpg" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-6.jpg 800w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-6-350x263.jpg 350w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-6-768x576.jpg 768w" data-sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" data-ll-status="loaded" /> <img class="aligncenter size-full wp-image-15891 entered litespeed-loaded" title="Nghiên cứu văn bản Nôm &quot;Xuất gia sa di quốc âm thập giới&quot; 14" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-7.jpg" alt="Tap Chi Nghien Cuu Phat Hoc Nghien Cuu Van Ban Nom Xuat Gia Sa Di Quoc Am Thap Gioi 7" width="800" height="600" data-lazyloaded="1" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-7.jpg" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-7.jpg 800w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-7-350x263.jpg 350w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/03/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-Nghien-cuu-van-ban-Nom-Xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi-7-768x576.jpg 768w" data-sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" data-ll-status="loaded" /></p>
<p>Chú thích:<br />
[1] Về tên hiệu của Tổ Như Trừng Lân Giác, theo tấm bia bài vị tháp tổ Cứu Sinh chùa Liên Phái thì là tên kép “Như Như Trừng Trừng”, trong cách sách ngài đứng in thường tự xưng theo lối kiêm nhường và thân mật là “Như Như”, còn hiệu Như Trừng là tên dùng trong cách sách vở có tính cách hàn lâm.<br />
[2] Nay là Hòa Thượng, trú trì chùa Liên Phái.<br />
[3] rất 窒: cực, tột (khác với trật 秩) dùng theo nghĩa cổ. Rất phẩm có thể hiểu là tột phẩm, bậc cao nhất.<br />
[4] chưng: của, hay dùng làm tiếng đệm như chi, ấy, thế<br />
[5] thửa (sở chữ Hán): vậy nên<br />
[6] hội thấy: lại thấy.<br />
[7] chẳng thuyết: chẳng bàn, chẳng nói tới<br />
[8] hổ: là hổ thẹn (ngày nay vẫn còn dùng)<br />
[9] thể lòng: động lòng<br />
[10] ngụ: nhờ vào, dựa vào (tiếng)<br />
[11] nhẫn: dầu, ví như<br />
[12] Bản B: tạo nhân, chỉ là lỗi đánh máy vì phần chú giải vẫn ghi là tại nhân.<br />
[13] Bản B: thìn. Có lẽ cũng là lỗi đánh máy.<br />
[14] Bản A: Nhác. Có lẽ là một dạng cổ âm của khác.<br />
[15] Bản A và B đều ghi “giống” là chữ trọng húy đời Nguyễn (tên húy vua Gia Long), nên bản C và D sửa ra “tính”. Nhưng nhiều chỗ khác các bản C/D cũng không sửa ví dụ chữ giống ngay ở câu trên, chúng tôi theo bản C chỉ vì muốn tránh dùng hai chữ giống ở hai câu liền nhau, đọc lên cảm giác lời thơ vụng.<br />
[16] Bản A, B, D đều là: dặn, còn C là dạy, ý nghĩa cũng như dặn.<br />
[17] Nga là từ cổ nghĩa là chơi bời, còn hàm ý bừa bãi, há nga là “há chơi” tức phải cẩn thận chớ có vô ý. Ý cả câu là phải che đèn kẻo con ngài (hay các loài bướm đêm khác) sa vào mà chết, làm tổn cái đức hiếu sinh của giới thứ nhất.<br />
[18] Ba câu này đều hàm ý chớ hại đến những giống vật dù nhỏ mọn (bước đi chú ý chớ đạp sâu, kiến).<br />
[19] Bản B phiên muông ra dưỡng và không có dấu phẩy nên thành câu vô lý. Câu này có 2 ý tiểu đối là không nuôi muông (chó), mà nên nuôi trâu.<br />
[20] Không là không có của cải gì, khó là nghèo khó, lấy ý từ câu thành ngữ “nhà khó của không”. Ý nói sư phải sống cần kiệm, ăn thì xin của thập phương.<br />
[21] Phương là phương hại, làm hại. Câu này rất lạ vì gần ba thể kỷ trước Tổ Như Trừng dường như đã thấy được tình trạng dùng hóa chất thuốc trừ sâu bừa bãi trong nông nghiệp hiện nay, đang gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường sống của con người và các sinh vật khác.<br />
[22] Chữ Nôm 凭 hầu hết tác giả đều phiên bằng, đúng với âm chữ Hán 憑, nhưng theo chúng tôi phải đọc biến âm là bẵng mới sát với cách đọc cổ (về ý nghĩa thì như nhau). Việc chữ 凭 còn có cách đọc Nôm là vững cũng cho thấy nó có thể được đọc với vần trắc, thanh ngã.<br />
[23] Ngần là ngấn, là mức, ý nói phải có khuôn phép, đặt ra mức độ, không được vi phạm.<br />
[24] Mỗ là mấy, chút. Mựa là chớ. Đều là từ cổ, xem thêm phần khảo về từ cổ ở cuối bài này.<br />
[25] Hèn bản D ghi bằng chữ nhàn 閑 phản ánh cổ âm có lẽ đọc gần như “nhèn”, cách ghi này có từ thời thơ Quốc Âm Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, rất tiếc là chúng tôi chưa có bản Nôm A nhưng đoán là cũng viết như D, chỉ có bản C sửa thành dạng hiện đại hơn dùng chữ hiền làm phần biểu âm ?.<br />
[26] Bản C ghi quả, còn các bản A,B,D đều ghi trái là từ cổ hơn. Chọn phiên trái theo đa số.<br />
[27] Bản B: Nếu có vật mặt gian manh. Chắc là lỗi đánh máy.<br />
[28] Bản B:  phải, (ngược hẳn nghĩa câu).<br />
[29] Các bản A,B,D là : Tà dâm.<br />
[30] A,B : đã. C,D: biết.<br />
[31] Bản B phiên “đối cảnh”. Chúng tôi theo “đổi cảnh” của bản A có ý nghĩa hơn (ý chỉ người ta thay đổi chân tính).<br />
[32] Bản B: kiếm củi. Bản A: tiểu củi (có lẽ đánh máy sai). C,D đều là tiếc, ý cả hai câu dựa vào câu thành ngữ “kiếm củi ba năm đốt một giờ”, khi tiếc củi thì không còn cây mà kiếm nữa.<br />
[33] A, B : hoa sen. Chắc in nhầm vì làm lạc vần câu thơ.<br />
[34] A, B, D: hay, C: như. Bản C đã sửa lại bản gốc, và sửa cả chữ bào cuối câu thành dào/giào.<br />
[35] B: bào, A : hào.  Bản C sửa ra dào có vẻ có nghĩa nhất. Chưa rõ hào ở bản A từ đâu mà có, còn bào ở bản B có thể là một dạng ghi âm cổ của trào, giào, dào, xin xem phần khảo chú từ cổ ở cuối bài.<br />
[36] A, B, D đều là ghé. Bản C viết 㨳 phiên ghé hay gửi đều được, chúng tôi chọn phiên ra gửi.<br />
[37] A,B : đến. C,D: tới.<br />
[38] Vẻ vang ở đây là từ cổ, khác nghĩa ngày nay.<br />
[39] Nguyên bản Nôm đáng lý đọc giáo giở theo giọng Bắc mới sát mặt chữ.<br />
[40] A, B: xiểm xu. Bị trùng lặp chữ xu ở câu dưới.<br />
[41] A,B: miệng. C,D: nói.<br />
[42] B: Đe hơi. Chúng tôi theo A: Đe loi. Nhưng ý nghĩa hai chữ này chưa rõ lắm.<br />
[43] A, B : là bốn. C, D : bốn ấy. Xét kỹ thì bên nào cũng có nghĩa, nhưng bốn ấy hơi khó hiểu, tạm phiên vốn ấy cho xuôi nghĩa.<br />
[44] A: hương lâm, B: hương lên. Đều sai vần.<br />
[45] A, B: Tính mình đã khác năm mười đoạn xa. Xem bản Nôm B thì chữ Nôm cũng là dặm 琰 (tức chữ diễm Hán), không hiểu sao các tác giả phiên ra đoạn?<br />
[46] Ý nói đời người có trăm năm, so bằng tấc gang thôi, chẳng thể thọ như rùa hạc, nên phải sống sao cho đáng kiếp người, đừng đắm mình trong hũ rượu.<br />
[47] A, B: son. C, D : thắm. Xét đang nói về quần áo nên thắm đúng nghĩa hơn son. Bản cả ba bản Nôm B, C, D đều ghi rõ chữ thắm ? (chữ châu 朱 chỉ nghĩa, chữ thẩm 審 chỉ âm), không hiểu sao A, B lại phiên ra son.<br />
[48] A, B: hài . Chữ 鞋 phiên hài hay giày đều được, chúng tôi chọn giày cho nôm na<br />
[49] A, B: Đời thì. D: Đòi thì. Các bản cổ là thì, là chữ húy tên vua Tự Đức nên bản C sửa ra khi.<br />
[50] A, B, D: thuyết, có thể phiên thốt cho nôm na hơn, nhưng vẫn không nôm na bằng nói.<br />
[51] Các bản A, B đều phiên yên, lạc vần so với câu dưới là chữ reo.<br />
[52] Hiêu 囂 chỉ dáng vẻ ung dung thong thả của người đạt đạo.<br />
[53] Há nga là “há chơi, há coi thường” đã có chú ở trên.<br />
[54] Hiêu là thong dong tự tại đã chú ở câu trên. Bản B phiêu kiêu, không rõ căn cứ vào đâu.<br />
[55] Bản B: dùng.<br />
[56] Bản B: trả.<br />
[57] Bản B: làm.<br />
[58] Bản B: hồn. Có lẽ vì chữ “u hồn” dùng nhiều nên người phiên âm đã sửa, trong khi các bản A, C, D đều ghi là “u đồ”.<br />
[59] Ăn từ bán nhật dĩ tiền là ăn trong buổi sáng trước khoảng bán nhật (trước giờ ngọ tức 12 giờ trưa)<br />
[60] Bản B: Gió. Bị trùng lặp hai chữ gió trong cùng một câu.<br />
[61] Bản B: bẻ bui. Phỉ phui hay bẻ bui chỉ sự trắc trở không suôn sẻ do thời tiết (xúi quẩy).<br />
[62] Bản B: hằng.<br />
[63] Ý đoạn này nói gặp khi thời tiết trắc trở hoặc có sự bất đắc dĩ thì cũng rộng cho phép ăn trong ngày (khi có mặt trời) chứ không bó buộc trong khoảng bán nhật dĩ tiền.<br />
[64] Tra (từ cổ) : thò (tay). Có thể là thò (tay) ra hay thò (tay) vào nhưng ngày nay chỉ còn dùng theo nghĩa vào (tra tay vào túi, tra kiếm vào vỏ).<br />
[65] Bản B : mê tân. Chắc lỗi đánh máy, vì sai vần cầm ở câu trước và câm ở câu sau.<br />
[66] Bản B: còn bằng, nhưng chú thích vẫn ghi côn bằng, tức chỉ là do đánh máy sai.<br />
[67] Chữ nôm và ? nghĩa là vài (một vài), thực ra cũng chỉ là một biến âm của vài.<br />
[68] Bản A: đòi hỏi. Bản B: đon đả, chắc phiên sai vì bản Nôm B viết là 敦誨 phiên đon hỏi đúng hơn. Bản C cũng là : đon hỏi 敦誨, đây là từ cổ có trong một số phiên bản Truyện Kiều.<br />
[69] Lưu ý là bản A, tức là cổ bản ban đầu (1726)  kết thúc ngay sau câu này. Còn bản D thì không có bài thơ tán bằng chữ Hán (ngũ ngôn bát cú), chỉ có bản B là có đầy đủ. Xét nội dung thì bản A đã diễn quốc âm đủ 10 giới, đoạn sau ở bản B chỉ là phần văn tán, có thể do đời sau thêm vào.</p>
<p>Tài liệu tham khảo:<br />
1. Thích Minh Tâm (2000), “Về văn bản Xuất gia Sa di quốc âm thập giới ở chùa Liên Phái, Hà Nội”, Thông báo Hán Nôm học, tr.424-434<br />
2. TT. Thích Gia Quang – GS. Nguyễn Tá Nhí (2009), Chùa Liên Phái, danh lam nổi tiếng Hà Thành, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội<br />
3. Xuất gia Sa di quốc âm thập giới, AB.366, Viện Nghiên cứu Hán Nôm<br />
4. “Lễ tụng Tập yếu Chư nghi”, trong Việt Nam Phật điển tùng san, EFEO trợ san 1943.</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://fanzung.com/?feed=rss2&#038;p=2733</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Văn bản Nôm Lý Sự Dung Thông trong bộ mộc bản chùa Hòe Nhai</title>
		<link>http://fanzung.com/?p=2731</link>
		<comments>http://fanzung.com/?p=2731#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 15 Dec 2023 06:22:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://fanzung.com/?p=2731</guid>
		<description><![CDATA[Mục lục 1. Giới thiệu văn bản và mộc bản: 2. Phiên chú toàn văn và đối chiếu dị bản: 3. Thống kê các chữ dị bản: 4. Về văn từ 5. Về cung cách viết chữ Nôm 6. Về chữ húy: 7. Về từ cổ và ngữ âm cổ: Tác giả: NNC Phan Anh [&#8230;]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="penci-toc-container-wrapper sticky-left">
<div id="penci-toc-container" class="penci-toc-container penci-toc-default counter-hierarchy enable-toggle s2 penci-toc-wrapper max-lv-3">
<div class="penci-toc-head penci-toc-title-container">
<p class="penci-toc-title">Mục lục</p>
</div>
<nav class="penci-toc">
<ul class="penci-toc-list">
<li class="penci-tocli"><a class="penci-toc-link penci-toc-heading-1" title="1. Giới thiệu văn bản và mộc bản:" href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/van-ban-nom-ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-hoe-nhai.html?gidzl=oUd_AFeVs13DyVif-WFV5iJr-Ydj1uuGYANzUxO7YaU7yVj_jmdHGuF--tZY1zj4qFNyBcK7m18E_1pT50#penci-1-Gioi-thieu-van-ban-va-moc-ban">1. Giới thiệu văn bản và mộc bản:</a></li>
<li class="penci-tocli"><a class="penci-toc-link penci-toc-heading-2" title="2. Phiên chú toàn văn và đối chiếu dị bản:" href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/van-ban-nom-ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-hoe-nhai.html?gidzl=oUd_AFeVs13DyVif-WFV5iJr-Ydj1uuGYANzUxO7YaU7yVj_jmdHGuF--tZY1zj4qFNyBcK7m18E_1pT50#penci-2-Phien-chu-toan-van-va-doi-chieu-di-ban">2. Phiên chú toàn văn và đối chiếu dị bản:</a></li>
<li class="penci-tocli"><a class="penci-toc-link penci-toc-heading-3" title="3. Thống kê các chữ dị bản:" href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/van-ban-nom-ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-hoe-nhai.html?gidzl=oUd_AFeVs13DyVif-WFV5iJr-Ydj1uuGYANzUxO7YaU7yVj_jmdHGuF--tZY1zj4qFNyBcK7m18E_1pT50#penci-3-Thong-ke-cac-chu-di-ban">3. Thống kê các chữ dị bản:</a></li>
<li class="penci-tocli"><a class="penci-toc-link penci-toc-heading-4" title="4. Về văn từ" href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/van-ban-nom-ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-hoe-nhai.html?gidzl=oUd_AFeVs13DyVif-WFV5iJr-Ydj1uuGYANzUxO7YaU7yVj_jmdHGuF--tZY1zj4qFNyBcK7m18E_1pT50#penci-4-Ve-van-tu">4. Về văn từ</a></li>
<li class="penci-tocli"><a class="penci-toc-link penci-toc-heading-5" title="5. Về cung cách viết chữ Nôm" href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/van-ban-nom-ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-hoe-nhai.html?gidzl=oUd_AFeVs13DyVif-WFV5iJr-Ydj1uuGYANzUxO7YaU7yVj_jmdHGuF--tZY1zj4qFNyBcK7m18E_1pT50#penci-5-Ve-cung-cach-viet-chu-Nom">5. Về cung cách viết chữ Nôm</a></li>
<li class="penci-tocli"><a class="penci-toc-link penci-toc-heading-6" title="6. Về chữ húy:" href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/van-ban-nom-ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-hoe-nhai.html?gidzl=oUd_AFeVs13DyVif-WFV5iJr-Ydj1uuGYANzUxO7YaU7yVj_jmdHGuF--tZY1zj4qFNyBcK7m18E_1pT50#penci-6-Ve-chu-huy">6. Về chữ húy:</a></li>
<li class="penci-tocli"><a class="penci-toc-link penci-toc-heading-7" title="7. Về từ cổ và ngữ âm cổ:" href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/van-ban-nom-ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-hoe-nhai.html?gidzl=oUd_AFeVs13DyVif-WFV5iJr-Ydj1uuGYANzUxO7YaU7yVj_jmdHGuF--tZY1zj4qFNyBcK7m18E_1pT50#penci-7-Ve-tu-co-va-ngu-am-co">7. Về từ cổ và ngữ âm cổ:</a></li>
</ul>
</nav>
</div>
</div>
<div class="pf-content">
<p>Tác giả: <strong>NNC Phan Anh Dũng, </strong><em>Trung tâm Tư liệu Phật giáo Việt Nam</em><br />
<em>Tạp chí Nghiên cứu Phật học <a href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/tag/so-thang-11-2023"><strong>Số tháng 11/2023</strong></a></em></p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td><em><strong>Tóm tắt:</strong> Chùa Hòe Nhai(1) là một chùa cổ, tổ đình của thiền phái Tào Động ở Việt Nam, trong kho <a href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/de-tai-nghien-cuu-tai-lieu-moc-ban-kinh-sach-tai-cac-chua-o-khu-vuc-mien-bac.html"><strong>mộc bản</strong></a> của chùa còn lưu giữ tư liệu cổ là bộ ván khắc tác phẩm chữ Nôm “<strong>Lý sự dung thông</strong>” của thiền sư Minh Châu Hương Hải do sư Giác Lâm trụ trì chùa Hòe Nhai khắc lại khoảng năm 1838 đời Minh Mạng. Trung tâm Tư liệu phật giáo Việt Nam đã thực hiện công tác số hóa kho mộc bản này nhằm bảo tồn, và phát huy giá trị di sản, nhận thấy đây là một tư liệu quý hiếm nên chúng tôi đã tiến hành khảo chú lý lịch của bộ ván khắc, đồng thời xin giới thiệu cả toàn văn tác phẩm này.</em><br />
<em><strong>Từ khóa:</strong> Mộc bản, Lý sự viên thông, Minh Châu Hương Hải, Giác Lâm, Hòe Nhai, Hồng Phúc.</em></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<h2><span id="penci-1-Gioi-thieu-van-ban-va-moc-ban" class="penci-toc-section">1. Giới thiệu văn bản và <a href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/de-tai-nghien-cuu-tai-lieu-moc-ban-kinh-sach-tai-cac-chua-o-khu-vuc-mien-bac.html">mộc bản</a>:</span></h2>
<p><strong>Lý sự dung thông</strong> là tác phẩm văn học chữ Nôm của Thiền sư Minh Châu Hương Hải(2) (1628-1715), được soạn theo thể song thất lục bát, gồm 162 câu, diễn giải những tư tưởng Phật giáo rất cơ bản như quan niệm hòa đồng tam giáo, quan niệm về lối sống của Phật tử Việt Nam mà GS Lê Mạnh Thát đã bàn: “Một lối sống trượng phu trung hiếu” và “một thời kỳ mà cuộc sống đạo và đời hòa quyện chặt vào nhau, đúng như yêu cầu Cư trần lạc đạo mà Trần Nhân Tông đã đề ra”. Người phật tử phải hiểu đạo, thông suốt cả sự và lý để nắm bắt và uyển chuyển trong cuộc sống.</p>
<p>Văn bản được công bố đầu tiên trong Toàn Tập Minh Châu Hương Hải của GS Lê Mạnh Thát, có ghi rõ là theo bản chữ Nôm trong bộ Việt Nam Phật điển trùng san, quyển thứ tư do Hội Phật Giáo Bắc Kỳ đứng in năm 1943. Bản này vốn in lại bản Nôm trong cuốn Nhất thời lễ tụng nhật dụng hành trì tập yếu chư nghi tàng bản ở chùa Yên Ninh (Trăm Gian) Hải Dương, vốn được chư tăng miền Bắc sử dụng nhiều, ký hiệu nhóm bản này là bản A. Ở thời điểm công bố GS Lê Mạnh Thát cho biết chỉ có một bản A nên đã không thể mở ra công việc đối chiếu dị bản để tìm một văn bản gần với nguyên tác.</p>
<p>Sau đó có bài của tác giả Thích Đồng Dưỡng cho biết đã sưu tầm thêm được 3 bản chữ Nôm từ kho sách của Viện Hán Nôm(3): “Tại thư viện có ba bản đề <strong>Lý sự dung thông</strong>, nằm trong các kí hiệu AB 177, AB 322, AB 374. Hầu hết đều được đóng chung với các văn bản khác. Bản AB 177 được đóng với các văn bản nôm Phật Giáo như Phật thuyết Nhân quả bản hạnh, Tây phương tịnh độ ca, Ni bát kính pháp phương ngôn, Đạt Na thái tử hạnh, Giới thần bản hạnh. Các bản in có niên đại từ Cảnh Thịnh cho đến Minh Mệnh. Bản AB 322, AB 374 đóng chung với hai sách khác là Đạt Na thái tử hạnh và Hồng Mông tạo hóa chư duyên bản hạnh (gọi tắt là Hồng mông hạnh). Hai sách trên được sư Giác Lâm chùa Hồng Phúc (tức chùa Hòe Nhai) khắc in vào năm Minh Mệnh, riêng bản Đạt Na thái tử hạnh được khắc ván năm Minh Mệnh thứ 19 (1838). Bản AB 322 và bản AB 374 giống nhau từ văn bản cho đến cách sắp xếp các tác phẩm được đóng lại với nhau. Chúng tôi cho đối chiếu <strong>Lý sự dung thông</strong> trong ba tập văn bản này thì thấy rằng chúng có cùng một ván in.”, để tiện đề cập trong bài, tạm ký hiệu nhóm 3 bản trên (AB 177, AB 322, AB 374) là bản B. Ba bản nhóm B này có nhiều chữ khác với hai bản nhóm A, ngay cả tiêu đề cũng khác, ở nhóm B là Lý sự dung thông còn nhóm A đổi là Sự lý dung thông.</p>
<p>Tiếp đó lại phát hiện thêm được bộ ván Sự lý dung thông ở chùa Bổ Đà, đã được in rập và số hóa, qua đối chiếu thì bộ ván này khác với cả hai nhóm A, B ở trên, vậy xin ký hiệu là bản C.</p>
<p>Gần đây, Trung tâm Tư liệu Phật giáo Việt Nam, khi thực hiện công tác số hóa tư liệu ở chùa Hòe Nhai (Hồng Phúc) đã phát hiện ra ván của các tác phẩm Nôm mà tác giả Thích Đồng Dưỡng đề cập ở trên, cho đến hiện tại (năm 2023) vẫn còn là Đạt Na thái tử hạnh, Hồng Mông tạo hóa chư duyên bản hạnh (còn đủ bộ), <strong>Lý sự dung thông</strong> (thiếu tờ 1) , Giới thần bản hạnh (thiếu nhiều). Sau khi thực hiện in rập và sao chụp số hóa chúng tôi đã có thêm một bản in <strong>Lý sự dung thông</strong>, khi đối chiếu tự dạng Dưỡng có nhã ý cung cấp, thì xác nhận nhóm truyền bản B ở trên chính là in từ bộ ván này (chẳng hạn tờ 4b có một chữ khá đặc biệt là chữ đảm 担 kỵ húy bằng cách thêm bộ xuyên trên đầu, khi so từng nét đều trùng khớp).</p>
<p>Về niên đại bản Nôm và ván in, do bản Nôm <strong>Lý sự dung thông</strong> không có thông tin về năm khắc và nơi tàng bản nên tác giả Thích Đồng Dưỡng dựa vào việc nó được đóng chung với các bản Hồng Mông Hạnh, Đạt Na Thái Tử Hạnh đều ghi niên đại Minh Mạng nên nhận định bản Lý sự dung thông cũng có niên đại đời Minh Mạng. Nhưng xét ra thì đó vẫn chỉ là ý kiến phỏng đoán, chúng tôi làm việc trực tiếp với bộ ván in chùa Hòe Nhai nên đã tìm ra chứng cứ chắc chắn hơn, đó là : tờ 9 của Đạt Na Thái tử hạnh và tờ 4 của Lý sự dung thông được khắc trên hai mặt của cùng một tấm ván, và mặt ván cuối của Đạt Na Thái tử hạnh là tờ 23 có khắc rõ niên đại là năm Minh Mạng thứ 19 (1838), do sư trụ trì chùa Hòe Nhai là Giác Lâm đứng ra san khắc. Vì vậy niên đại của <a href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/buoc-dau-tim-hieu-viec-khac-in-moc-ban-va-tu-tuong-nhap-the-cua-cac-thien-su-son-mon-lien-phai.html"><strong>mộc bản</strong></a> Lý sự dung thông cũng là năm 1838 (gần như chính xác, trừ phi có lý do hãn hữu bất ngờ nào khác).</p>
<p>Với hệ thống 3 truyền bản A, B, C như vậy đã tạm đủ để thực hiện đối chiếu dị bản nhằm tìm một văn bản gần với nguyên tác nhất, và qua đó còn có thể tìm hiểu thêm phần nào về ngữ âm lịch sử tiếng Việt và quá trình diễn biến của chữ Nôm, đó chính là nội dung của bài viết này.</p>
<p><img class="penci-lazy wp-image-21651 size-full lazyloaded pcloaded" title="Văn bản Nôm Lý Sự Dung Thông trong bộ mộc bản chùa Hòe Nhai 4" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-2.png" alt="Tap chi Nghien cuu Phat hoc So thang 11.2023 Van ban nom Ly su dung thong trong bo moc ban chua Hoe Nhai 2" width="738" height="472" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-2.png" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-2.png 738w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-2-350x224.png 350w" data-ll-status="loaded" /></p>
<h2><span id="penci-2-Phien-chu-toan-van-va-doi-chieu-di-ban" class="penci-toc-section">2. Phiên chú toàn văn và đối chiếu dị bản:</span></h2>
<p>LÝ SỰ DUNG THÔNG(4)<br />
[1a] Bể làu làu trời thanh nguyệt rạng<br />
Hội muôn <strong>lành</strong>(5) một áng đoàn viên<br />
Tỏ lòng đông thổ tây thiên<br />
Gần xa đầm ấm hương thiền nức xông<br />
<strong>Rỡ</strong>(6) vừng hồng hoa khai bát nhã<br />
Trồng(7) bồ đề kết quả tự nhiên<br />
Đường lên hiền thánh phật tiên<br />
Gồm no phúc tuệ vẹn tuyền chẳng sai<br />
Diễn pháp tài thông hay sự lý<br />
Cúng mười phương một vị chẳng dư<br />
Thật quyền thể dụng như như<br />
Tùy duyên đôi chữ lòng từ độ nhân<br />
Xét nguồn cơn phật tri chính kiến<br />
Ấn tâm truyền mật hiển đinh ninh<br />
Hằng thìn pháp nhẫn vô sinh<br />
Chỉ quán vặc vặc phân minh <strong>rẽ</strong>(8) ròi<br />
Gương hằng soi <strong>cong nơi</strong>(9) thốn niệm<br />
[1b]<strong>Chút</strong>(10) bả trần chẳng điểm thị phi<br />
Rửa không non mạn thành nghi<br />
Một lòng bình đẳng trí bi độ người(11)<br />
Dầu <strong>chê</strong>(12) cười hương đồ đao cắt<br />
Lý rành rành thể ắt(13) chiêm bao<br />
Lông rùa sừng thỏ phân sao(14)<br />
Nhẫn như không nhẫn, nhục nào nhục ai<br />
Hạc xông, ngựa ruổi đường dài<br />
Long phi, bằng cử nào ai sánh cùng<br />
Dầu anh hùng tài năng tế thế<br />
Trong ảo trường luống kể chiêm bao<br />
Tứ sinh cửu hữu ra vào<br />
Nhân thiên đạo nhãn lòng nào nhưng nhưng<br />
Phải phiền chưng đức người thượng sĩ<br />
Phương tiện dùng lợi kỷ lợi tha<br />
Trong nơi danh giáo có ba<br />
Nho hay giúp nước sửa nhà trị dân<br />
Đạo thời dưỡng khí an thần<br />
Thuốc trừ tà bệnh chuyên cần luyện đan<br />
Thích độ nhân [2a] miễn tam đồ khổ<br />
Thoắt cửu huyền thất tổ siêu phương<br />
Nho dùng tam cương ngũ thường<br />
Đạo gìn <strong>năm</strong>(15) khí giữ giàng ba nguyên<br />
Thích giáo nhân tam quy ngũ giới<br />
Thể một đường xa phải dụng ba<br />
Luận chưng thánh tổ nho gia<br />
Trong đời trị thế người là nhân sư<br />
Sao bằng Đâu Suất vị cư<br />
Lão Quân tiên chủ đại từ dược phương<br />
Phật là vạn pháp trung vương<br />
Làm thày ba giới đạo trường nhân thiên<br />
Những thánh hiền nguồn nhân bể quả<br />
Xưa tu hành trí đã rộng cao<br />
Trong nơi ba giới ra vào<br />
Mười phương tri thức ai nào khả nghi<br />
Nguyệt in thanh hải tịnh trì<br />
Thềm lan bóng trúc hề gì vén ngăn<br />
Phên dày nước chảy khôn <strong>ngần</strong>(16)<br />
Mây ruổi ngoài trần khá động non [2b] cao<br />
Sự nài bao hang sâu tiếng dội<br />
Đèn hãy dùng chớ nỗi chờ trăng<br />
Đường lên diệu lộ cao thăng<br />
Giải hạnh đôi chữ khá rằng dám sai<br />
Tạng Như Lai làu làu thanh tịnh<br />
Năm hương lòng hằng kính hằng tin<br />
Đòi phen giải thoát tự nhiên<br />
Dụng chân như trí gương thiền lắng thâu<br />
Lộc dương theo dấu hay đâu<br />
Nê ngưu vào <strong>bể</strong>(17) rộng sâu khôn tìm<br />
Bao nhiêu chim bay về lạc tổ<br />
Mây che ngoài <strong>lỡ</strong>(18) ổ hang xưa<br />
Đêm chẳng ngừa nhọc treo gương đá<br />
Ban rạng ngày trời đã phân minh<br />
Uyên ương vẽ dạng xem hình<br />
Cớ đâu lưới rách cho mình <strong>mấy</strong>(19) thông (?)<br />
Hãy nhìn sáu tổ năm tông<br />
Thiền hà muôn phái một dòng Tào Khê<br />
Bể từ <strong>lạt</strong>(20) sạch nguồn mê<br />
Máy thiêng(21) mở [3a] <strong>khép</strong>(22) đề huề độ sinh<br />
Chuyển vô minh bội trần hợp giác<br />
Vui <strong>thửa</strong>(23) bề diệu dược liên bang<br />
Dầu ai hiểu biết tâm vương<br />
Chứng vô thượng đạo lên đường Như Lai<br />
Ra nhân đức nhuận ân oai</p>
<p>Làu làu viên tĩnh trong ngoài lặng thanh<br />
Khá còn chấp tướng <strong>ngại</strong>(24) danh<br />
Tùy cơ thuận nghịch tung hoành cùng ưa<br />
Tấm gió đưa đèn lòng phắc phắc<br />
Muôn niệm dùng vặc vặc chẳng sai<br />
Tuy rằng nam có Thiên Thai<br />
Bắc có Ngũ Đài một phép năng nhân<br />
Dốc bốn ân đức nhờ tam bảo<br />
<strong>Vin</strong>(25) tứ hoằng một đạo nguyên xưa<br />
Cam lồ nước rẩy làm mưa<br />
Muôn cây <strong>nhuần đượm</strong>(26) ơn nhờ xuân thiên<br />
Trường hà tô lạc luyện nên<br />
Quần sinh hóa dục công đền muôn công<br />
Mặc dầu việt tổ siêu tông<br />
Vin cành <strong>đếm</strong>(27) lá rồi lòng mới yên<br />
Mặc dầu tĩnh tọa lâm tuyền<br />
Thiền na [3b] chín quyết tinh chuyên đêm ngày<br />
Mặc dầu vân thủy nước mây<br />
Đầu đà thượng hạnh làm thầy độ sinh<br />
Đạo viên minh ngại chi chân tục<br />
Miễn lòng rồi tri túc thời nên<br />
Năm mươi lăm phẩm dưới trên<br />
Luyện Tam Muội hỏa chí bền Kim Cương<br />
Nhân thiên mấy đấng phong quang<br />
Tam hiền thập thánh một đàng cao siêu<br />
Cày mây cuốc nguyệt tuy nhiều<br />
Chứng vô thượng sĩ danh biêu mới nồng<br />
Hai mươi lăm cửa viên thông<br />
Mặc dầu tri thức tâm không ngại gì<br />
Ưu Đàm hoa nở phải thì<br />
Nhân duyên đại sự há vì một ai<br />
Cắp non nhảy bể mới tài<br />
Dùng Ba La Mật chứng ngoài tam không<br />
Biết nơi thành tựu vun trồng<br />
Ngỏ lòng Viên Giác tính đồng Hoa Nghiêm<br />
Cao nhân chi có nữ hiềm<br />
Thanh trần hủy dự càng thêm đức dày<br />
Nửa câu <strong>bán</strong>(28) kệ biện hay<br />
Biết [4a] lòng lọ phải nhọc bày danh ngôn<br />
Máy càn khôn một bầu thế giới<br />
Vốn chưa từng thành hoại hư không<br />
Rừng Nho bể Thích dung thông<br />
Linh đài vặc vặc vừng hồng rạng thanh<br />
Bồ đề quả mãn viên thành<br />
Ẩm quang còn ngợi thói lành muôn duyên<br />
Xưa sau thiên thánh vạn hiền<br />
Chứng nên thành phật thành tiên một lòng<br />
Muôn điều nghìn mối rũ xong<br />
Hằng sa tính đức há phòng niệm sinh<br />
Tam tạng mười hai bộ kinh<br />
Tòng tâm lưu xuất tượng hình thật không<br />
Nhân Đà lịch kiếp dụng công<br />
Tu hành như ảo mộng trung hồi trình<br />
Trong mười tám cõi viên minh<br />
Căn trần thanh tĩnh thái bình tự nhiên<br />
Ấy lời khuyên <strong>phô</strong>(29) người thiền tử<br />
Lẽ hiểu tường sự giữ tạm tu<br />
Hằng rèn giới hạnh công phu<br />
Lên đường tinh tiến nhẫn phù yên tâm<br />
Ngày càng chuyển nhập, chuyển thâm<br />
[4b]Nguồn nhân bể quả mựa lầm tóc tơ<br />
Máy thiền cơ công này(30) định, tuệ<br />
Phải tham tường mới kể chân tu<br />
Dốc <strong>làm</strong>(31) chí cả trượng phu<br />
Đạo lên trung hiếu ân thù vẹn hai<br />
Cong khi khó nhọc mựa nài<br />
Sức dùng hà đảm(32) Như Lai viên thành<br />
Sạch lời đối đãi đua tranh<br />
Bẻ sào nhân ngã, rửa thành mạn nghi<br />
Thanh trần gác <strong>để</strong>(33) thị phi<br />
Tịnh thân khẩu ý thanh quy làu làu<br />
Nết hằng trau ngôn từ đức hạnh<br />
Trí phen đòi lượng thánh hiền xưa<br />
Bữa dùng đạm(34) bạc muối dưa<br />
Bả bô thường tịnh sớm trưa phải thì<br />
Cơ duyên chiết <strong>nhiếp</strong>(35) ân oai<br />
Trong hằng thanh tịnh ngoài thì đoan trang<br />
Cong nơi giềng mối sửa sang<br />
Răn khuyên hậu học mở đàng tiến tu<br />
Quy mô Phật pháp khuông phù<br />
Để làm minh kính thiên thu dõi truyền<br />
[TẤT]</p>
<h2><span id="penci-3-Thong-ke-cac-chu-di-ban" class="penci-toc-section">3. Thống kê các chữ dị bản:</span></h2>
<p>Trường hợp cùng một chữ Nôm các bản viết dạng khác nhau thì không coi là dị bản, sẽ khảo ở mục “về cung cách viết chữ Nôm”, ở đây chỉ bàn về các chữ là dị bản “thực sự”, có thể là chữ gần nghĩa hay khác nghĩa, chúng tôi lập được bảng thống kê sau:</p>
<p><img class="penci-lazy aligncenter size-full wp-image-21652 lazyloaded pcloaded" title="Văn bản Nôm Lý Sự Dung Thông trong bộ mộc bản chùa Hòe Nhai 5" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-3.png" alt="Tap chi Nghien cuu Phat hoc So thang 11.2023 Van ban nom Ly su dung thong trong bo moc ban chua Hoe Nhai 3" width="800" height="592" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-3.png" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-3.png 800w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-3-350x259.png 350w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-3-768x568.png 768w" data-ll-status="loaded" /></p>
<p>Qua bảng này nhận thấy C là bản trung gian giữa A và B, nhưng nghiêng về B nhiều hơn, cụ thể có 9 trường hợp C theo B, 5 trường hợp C theo A, còn lại 4 trường hợp C đứng riêng.</p>
<h2><span id="penci-4-Ve-van-tu" class="penci-toc-section">4. Về văn từ</span></h2>
<p>Bài này dùng chủ yếu thể thơ lục bát nhưng có chen một số câu song thất lục bát, giúp vần điệu có tính biến thiên chứ không đều đều như thể lục bát. Một số chỗ gieo vần lưng ở chữ thứ 4 câu 8 là dấu tích của thơ lục bát thủa ban đầu khi còn chưa thống nhất vị trí gieo vần là chữ thứ 6, nhưng cũng giúp vần điệu biến hóa linh hoạt hơn, ví dụ:</p>
<p>Tuy rằng nam có Thiên Thai<br />
Bắc có Ngũ Đài một phép năng nhân</p>
<p>Văn hay nhờ dùng nhiều thủ pháp ví von, thể hiện những tư tưởng có vẻ trừu tượng qua những sự vật khá cụ thể bình dân, như:<br />
Sạch lời đối đãi đua tranh<br />
Bẻ sào nhân ngã, rửa thành mạn nghi…<br />
Bữa dùng đạm bạc muối dưa<br />
Bả bô thường tịnh sớm trưa phải thì…<br />
Rỡ vừng hồng hoa khai bát nhã<br />
Trồng bồ đề kết quả tự nhiên…<br />
Rửa không non mạn thành nghi<br />
Một lòng bình đẳng trí bi độ người…<br />
Rừng Nho bể Thích dung thông<br />
Linh đài vặc vặc vừng hồng rạng thanh…<br />
Cắp non nhảy bể mới tài<br />
Dùng Ba La Mật chứng ngoài tam không …</p>
<h2><span id="penci-5-Ve-cung-cach-viet-chu-Nom" class="penci-toc-section">5. Về cung cách viết chữ Nôm</span></h2>
<p>Vấn đề này tác giả Thích Đồng Dưỡng đã trình bày khá rõ, được sự đồng ý của tác giả chúng tôi xin phép trích lại đoạn so sánh giữa hai nhóm bản B (tác giả gọi là AB 177) và nhóm bản A (tác giả gọi là bản Yên Ninh)</p>
<p>“Theo học giả Đào Duy Anh thì thông thường tỷ lệ chữ giả tá nhiều hơn tỉ lệ chữ hình thanh thì bản có số chữ giả tá sẽ có niên đại lớn hơn. Kết luận này khá chính xác về nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm ở ta. Qua đối chiếu, chúng tôi nhận thấy hai bản có sự dị biệt về tự dạng, sơ bộ khảo sát thấy có 74 chữ khác nhau. Ví dụ như sau, chữ Tỏ, bản AB 177 mượn chữ tố 訴,bản Nhật tụng thêm bộ hỏa 火 vào. Tức bản AB 177 theo lối giả tá, còn bản Nhật tụng theo lối hình thành, sáng tạo chữ mới. Chữ No, bản AB 177 mượn Nô 奴, bản Nhật tụng thêm bộ thực 食. Chữ Sao mượn chữ Lao 牢 còn bản kia thêm chữ hà 何 vào. Chữ đêm, bản AB 177 mượn điếm 店, còn bản Nhật tụng thêm bộ nhật 日 vào chữ điếm 店. Chữ Há, bản AB 177 lấy chữ Hà 呵, còn bản Nhật tụng thì thêm chữ khởi 豈 vào với chữ Ha. Chữ Bóng, bản AB 177 dùng chữ 俸 bổng để đọc, bản Nhật tụng viết theo lối hình thanh một bên bộ Nguyệt với chữ bổng nhưng bỏ bộ nhân. Trường hợp này khá nhiều, chúng tôi đơn cử một vài chữ để ví dụ minh chứng.</p>
<p>Một số chữ cùng âm nhưng bản AB 177 có tính cổ xưa hơn như chữ Một trong bản AB 177 viết 蔑 tức mượn miệt đọc thành một, còn bản Nhật tụng viết 沒. Chữ Ra, bản AB 177 cấu tạo gồm bộ khẩu 口với chữ la 羅, còn bản Nhật tụng thì phía trên chữ la dạng viết tắt, dưới thêm chữ xuất出. Cùng đọc là Chữ nhưng bản AB 117 mượn Tự 字, còn bản Nhật tụng viết theo lối nhà Nguyễn sau này.</p>
<p>Có một kiểu đọc tuy cùng một âm đọc nhưng hai bản sử dụng hai chữ khác nhau như chữ Thật, bản AB 177 dùng 實, bản Nhật tụng dùng 寔, có thể bản Nhật tụng ghi theo kiểu viết húy đời Nguyễn. chữ Hoa, bản AB ghi 花, bản Nhật tụng ghi 華.Chữ vóc, bản AB 177 ghi bốc theo kiểu chữ 仆, còn bản Nhật tụng ghi 僕.</p>
<p>Qua khảo sát cấu trúc chữ nôm trong hai văn bản, chúng tôi nhận thấy bản Lý sự dung thông trong AB 177 có tính cổ xưa hơn bản Nhật Tụng chùa Yên Ninh. Có thể khi biên soạn sách, sư Viên Giác đã “dọn” chữ nôm đời Lê cho hợp với lối đọc thời Nguyễn. Do đó, bản AB 177 gần nguyên bản hơn và bản này dùng để nghiên cứu khi chưa tìm ra bản in đợt đầu. Còn bản Nhật tụng chùa Yên Ninh dùng trong việc khảo dị, đối chiếu các bản với nhau.”</p>
<p>Đối với bản “trung gian” C khi xét về cách viết thì C lại gần với A hơn (tức C nghiêng theo cách viết mới), ví dụ các chữ ba (là số 3) bản C đều viết dạng  có chữ tam chỉ nghĩa, các chữ ra  , vào  cũng viết đủ phần chỉ nghĩa, nhưng chữ sao 牢 thì vẫn viết dạng đơn như bản B. Về vấn đề cách viết ở bản C gần với A, tác giả Thích Đồng Dưỡng nhận xét rằng chùa Bổ Đà (nơi tàng bản C) là cơ sở cho chùa Yên Ninh (nơi tàng bản A), và vốn cùng sơn môn.</p>
<p>Tóm lại về cung cách viết thì bản B là bản có nhiều dấu tích cổ nhất.</p>
<h2><span id="penci-6-Ve-chu-huy" class="penci-toc-section">6. Về chữ húy:</span></h2>
<p>Chữ húy viết thật sự rõ ràng là trường hợp chữ đảm (húy vua Minh Mệnh, Nguyễn Phước Đảm) ở bản B viết húy 担 có bộ xuyên trên đầu, chú ý là chữ này chỉ đồng âm chứ không phải chữ chính húy 膽, có lẽ vì khi khắc bản B thì đang chính thời Minh Mạng nên người viết không những đã chọn dạng viết tránh thiên bàng rồi lại còn cẩn thận gia thêm bộ xuyên trên đầu. Còn các bản A, C đều viết dạng bình thường là 擔, vừa đồng âm vừa cùng thiên bàng với chữ phải húy.</p>
<p>Trường hợp húy chữ chủng 種, bản A viết bằng chữ Nôm trồng 槞 là dạng viết tránh húy, bản B vẫn để nguyên chữ chủng 種 (phạm húy), còn bản C viết một chữ có vẻ giống chữ “mầm” rõ ràng là để tránh chữ húy “chủng”.</p>
<p>Trường hợp chữ Tông 宗 (húy vua Thiệu Trị Nguyễn Phúc Miên Tông), chữ Hoa 華/花 (húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa), chữ Thì 時 (húy vua Tự Đức Nguyễn Phúc Thì) các bản đều không viết húy, đối với bản B thì không có vấn đề gì vì đã xác định thời gian khắc là đời Minh Mạng, tức khi chưa có luật húy các chữ Tông, Hoa, Thì. Nhưng với các bản A, C thì có vấn đề phải suy nghĩ vì bản A tức bản trong sách Nhất thời lễ tụng hành trì tập yếu chư nghi tàng bản ở chùa Yên Ninh, sách này có bài bạt ở sau phần đầu viết vào năm Tự Đức thứ 36 (1883) cho biết người khởi soạn là sư Viên Giác tức sư Thanh Lịch tự Phổ Tiến, hiệu là Tuệ Phụng Thích Vĩnh Vĩnh (1825-1885). Có lẽ bản thảo chưa kịp khắc in thì sư viên tịch (1885) nên được các học trò đứng ra khắc ván vào năm Thành Thái thứ 14 (1902) tại chùa Yên Ninh như ghi ở cuối sách. Dầu thời gian soạn 1883 hay in 1902 thì đều phải húy chữ Tông, Thì, Hoa, chẳng hạn trong bài bạt Nhất thời lễ tụng tập yếu – hội bạt của sư Viên Giác chữ thời (thì 時) đã được viết húy bằng cách bỏ nét ngang trong bộ nhật.</p>
<p><img class="penci-lazy size-full wp-image-21653 lazyloaded pcloaded" title="Văn bản Nôm Lý Sự Dung Thông trong bộ mộc bản chùa Hòe Nhai 6" src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-4.png" alt="Tap chi Nghien cuu Phat hoc So thang 11.2023 Van ban nom Ly su dung thong trong bo moc ban chua Hoe Nhai 4" width="800" height="568" data-src="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-4.png" data-srcset="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-4.png 800w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-4-350x249.png 350w, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/wp-content/uploads/2023/11/Tap-chi-Nghien-cuu-Phat-hoc-So-thang-11.2023-Van-ban-nom-Ly-su-dung-thong-trong-bo-moc-ban-chua-Hoe-Nhai-4-768x545.png 768w" data-ll-status="loaded" /></p>
<p>Việc các bản Nôm thời Lê in ở gần cuối sách lại không húy có khả năng do chúng được “in kèm” vào sau, người đứng in đã cho khắc lại y nguyên các bản in cũ khoảng thời Minh Mạng về trước, vốn không húy các chữ trên, lý do nữa là khi in năm 1902 thì chủ quyền nước ta đã mất vào tay thực dân Pháp, các luật húy của triều Nguyễn trở lên lỏng lẻo, chiếu lệ mà thôi?</p>
<h2><span id="penci-7-Ve-tu-co-va-ngu-am-co" class="penci-toc-section">7. Về từ cổ và ngữ âm cổ:</span></h2>
<p>So sánh thời đại thì thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1715) sinh trước thiền sư Như Trừng Lân Giác (1996-1733) đến hơn hai thế hệ, nhưng bản Nôm Lý sự dung thông lại ít từ cổ hơn các bản Thập giới quốc âm, Ngũ giới quốc âm của thiền sư Như Trừng Lân Giác, (xin tham khảo bài viết về Ngũ giới quốc âm của chúng tôi)(36).</p>
<p>Chỉ có chữ “cong” (trong) như trong câu “Cong khi khó nhọc mựa nài” là phản ánh được thời gian sáng tác là khoảng nửa đầu thời Lê Trung hưng (khoảng trước 1700). Các từ như “phô”, “biêu”, “mựa”, “thể” ước khoảng cuối Lê đầu Nguyễn vẫn còn dùng nên không thực sự cổ lắm. Trường hợp từ “rẽ ròi” trong câu “Chỉ quán vặc vặc phân minh rẽ ròi” phần nào cũng cho thấy bản Nôm vốn là một bản cổ, vì việc bản A sửa ra “rạch ròi” chứng tỏ là từ “rẽ ròi” đến cuối đời Nguyễn đã là từ cổ, không còn thông dụng.</p>
<p>Ngoài ra trong cách viết chữ Nôm cũng có vài chữ mang dấu vết ngữ âm cổ, trong câu “Lý rành rành thể ắt chiêm bao”, chữ ắt bản A viết dạng phổ thông là 乙. Nhưng các bản B, C đều viết dạng (車+乙), kí hiệu 車 ở đầu thể hiện một dạng cổ âm có tiền âm tiết, ví dụ như k’ắt hay x’ắt chứ không phải là một âm đơn “ắt” như cách đọc ngày nay. Việc thêm kí hiệu 車 trong chữ Nôm thường chỉ gặp ở những chữ rất cổ và là từ phổ thông trong tiếng Việt như cách viết các chữ trước , , sau  (do chữ viết có tính bảo thủ hơn ngữ âm, mà đây là các từ phổ thông nên cách viết cổ đã thành quen thuộc, kể cả sau này khi ngữ âm đã biến đổi không còn tiền âm tiết thì cách viết đã quen thuộc đó vẫn tiếp tục được sử dụng). Ngoài ra còn có chữ thiêng ở bản B, C cũng viết dạng cổ (灵+巨) , trong đó chữ cự 巨 cũng như xa 車 là dấu tích của một tiền âm tiết cổ.</p>
<p>Việc bản Nôm Lý sự dung thông của thiền sư Minh Châu Hương Hải ra đời trước lại ít từ cổ hơn các bản Nôm của thiền sư Như Trừng Lân Giác phải chăng do bản này đã từng được chỉnh lý lớn vào cuối đời Lê? Ngoài ra còn có thể do thiền sư Minh Châu Hương Hải vốn sinh trưởng ở Đàng Trong (Quảng Nam) mãi đến năm 54 tuổi (1682) mới chuyển ra Đàng Ngoài, nên ngôn từ sử dụng có tính trung lập, dùng những từ phổ thông người trong toàn quốc đều hiểu được chứ tránh dùng từ có tính địa phương và ít dùng từ cổ.</p>
<p>Nhận xét:</p>
<p>– Lý sự dung thông của thiền sư Minh Châu Hương Hải có thể coi là một trong những tác phẩm mở đầu loạt sách diễn Nôm các giáo lý cơ bản của Phật giáo do các thiền sư Minh Châu Hương Hải, Chân Nguyên Tuệ Đăng và Như Trừng Lân Giác biên soạn khoảng cuối TK 17 đầu TK 18.</p>
<p>– Tác phẩm này là một áng văn Nôm hay, ngôn từ trôi chảy, vần điệu nhịp nhàng, trình bày một cách nôm na bình dân những vấn đề tưởng như rất thâm diệu của Phật giáo.</p>
<p>– Qua đó càng thấy thêm tính quý hiếm có của bộ mộc bản của chùa Hòe Nhai, vừa có niên đại rất cổ kính (đời Minh Mạng), lại chứa một bài văn Nôm có nội dung rất giá trị, không chỉ về mặt tư liệu mà cả về giá trị văn chương. Sắp tới chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp bộ ván của các tác phẩm có giá trị khác là Hồng Mông Hạnh, Đạt Na Thái Tử Hạnh cũng trong kho mộc bản chùa Hòe Nhai.</p>
<p>Tác giả: <strong>NNC Phan Anh Dũng, </strong><em>Trung tâm Tư liệu Phật giáo Việt Nam</em><br />
<em>Tạp chí Nghiên cứu Phật học <a href="https://tapchinghiencuuphathoc.vn/tag/so-thang-11-2023"><strong>Số tháng 11/2023</strong></a></em></p>
<p>***</p>
<p>CHÚ THÍCH:<br />
(1) Chùa Hòe Nhai là một tổ đình của phái Tào Động, tham khảo ở link sau: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_H%C3%B2e_ Nhai<br />
(2) Có thể tham khảo: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C6%B0%C6%A1ng_H%E1%BA%A3i<br />
(3) Có thể xem tại link: http://lytranvien.blogspot.com/2011/06/ly-su-dung-thong.html.<br />
(4) Theo truyền bản B. Bản nôm A và C đảo là : SỰ LÝ VIÊN THÔNG<br />
(5) Bản A : thiêng . Bản B và C viết 苓 thì có thể đọc hai âm lành hay linh (đồng nghĩa với thiêng của bản A)<br />
(6) Phiên theo bản B, viết là (呂+赤), bản C viết là (足+赤) chưa rõ nên đọc là gì. Còn bản A viết là hé (口+戲 ).<br />
(7) Bản A viết chữ Nôm trồng 槞. Bản B để nguyên chữ chủng 種 (phạm húy). C viết chữ mầm có lẽ để tránh húy.<br />
(8) Bản A sửa là rạch ròi. Phiên là rẽ ròi theo bản B (viết là(扌+禮 ) và C (viết là 扌+礼), nghĩa cũng như rạch ròi nhưng đây là từ cổ ít dùng.<br />
(9) Hai chữ 工尼 GS LMT phiên : công này.<br />
(10) Theo bản B, C . Bản A sửa là suốt 焠 .<br />
(11) Chú ý bản B viết dạng cổ 㝵, không thêm bộ nhân, các bản A, C đều thêm bộ nhân :<br />
(12) Theo bản A, C. Bản B là nói 吶 .<br />
(13) Bản A viết 乙 . Các bản B, C đều viết dạng (車+乙), dấu hiệu 車 thể hiện một dạng cổ âm có tiền âm tiết, chẳng hạn như k’ắt hay x’ắt chứ không phải là một âm đơn “ắt” như cách đọc ngày nay.<br />
(14) Bản B,C viết dạng cổ 牢 , bản A thêm bộ phận chỉ nghĩa 何 (hà) thành dạng  . Chú ý các trường hợp bản A sửa theo dạng chữ Nôm muộn đã được tác giả Thích Đồng Dưỡng đề cập khá chi tiết nên chúng tôi chỉ dẫn vài trường hợp như trên, còn từ đoạn<br />
này về sau sẽ không chú thêm, trừ khi cách viết có gì bất thường.<br />
(15) Bản A ngũ, B và C đều là năm.<br />
(16) Theo B và c. Còn A là “Phiến dày nước chảy khôn ngăn”, bị trùng lặp vần ngăn ở câu trên.<br />
(17) Bể theo bản B, A , riêng C sửa là biển.<br />
(18) Bản B, C lỡ . Bản A : ngỡ<br />
(19) Bản phiên của GS LMT : mối<br />
(20) Lạt theo A và B. Riêng bản C viết là (卒+亇) có thể đọc là suốt như ở từ “trong suốt”.<br />
(21) Chú ý bản B và C viết dạng cổ (灵+巨).<br />
(22) Chữ Nôm các bản đều viết là 挾. GS LMT phiên ra giáp.<br />
(23) Thửa theo B, C. Bản A : về<br />
(24) B, C : ngại. Bản A : nghi<br />
(25) Phiên vin theo bản B. Bản A và C: tiếp<br />
(26) Bản A : đảo là đượm nhuận.<br />
(27) Theo bản A. Bản B : Vẩy cành chấm lá, cũng có nghĩa.<br />
(28) Bản phiên của GS LMT : nửa .<br />
(29) Phô theo bản B. Bản A là dặn  nhưng GS LMT phiên là nhủ. Còn bản C viết một chữ lạ và ảnh bản rập bị nhòe nên không rõ chữ gì.<br />
(30) Có thể phiên cong nơi nghĩa là trong nơi, ở nơi cũng có nghĩa.<br />
(31) Bản phiên của GS LMT : tâm.<br />
(32) Chữ đảm 担bản B viết húy có bộ xuyên trên đầu (húy vua Minh Mệnh, Nguyễn Phước Đảm) dù chữ này chỉ đồng âm chứ không phải chữ chính húy 膽 . Có lẽ vì khi khắc bản B đang chính thời Minh Mạng. Còn các bản A, C đều viết dạng bình thường là 擔 vừa đồng âm vừa cùng thiên bàng với chữ phải húy.<br />
(33) Bản B, C đều là chữ rẽ (扌+禮 hay 扌+礼 ) . Bản A sửa là để 底 . Gác rẽ cũng có nghĩa nhưng có thể nhiều người không hiểu nên<br />
phiên theo bản A, mặc dù xác định B, C là nguyên tác.<br />
(34) Nguyên bản B viết chữ xa là xa hoa, có lẽ là kiểu nói ngược cường điệu (muối dưa thì sao mà xa hoa ?), Bản A và C đã sửa thành đạm (đạm bạc), dễ hiểu và hay hơn, vậy xin theo bản A và C.<br />
(35) B: nhiếp. A, C : tiếp.<br />
(36) https://tapchinghiencuuphathoc.vn/nghien-cuu-van-ban-nom-xuat-gia-sa-di-quoc-am-thap-gioi.html</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://fanzung.com/?feed=rss2&#038;p=2731</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
