Tiếng Việt

Tiếng Việt – Thơ Lưu Quang Vũ

Tại hạ không thích thuổng hay trích thơ người khác về trang hoàng blog của mình, nhưng bài này của Lưu Quang Vũ thì xin có biệt lệ …

Tiếng Việt

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

“Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo, như dây đàn máu nhỏ.

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu ?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya ?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình…

Lưu Quang Vũ

Tìm hiểu lớp từ cổ Việt-Hán

TÌM HIỂU VỀ LỚP TỪ CỔ VIỆT HÁN QUA CÁC CỨ LIỆU NGỮ ÂM LỊCH SỬ

(About the Viet-Han ancient words class through
the historical phonetic data)[1]

Phan Anh Dũng

Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế

Tóm tắt:

Bài viết đưa ra bảng so sánh các từ cổ Việt-Hán trong tiếng Việt với các tư liệu phục nguyên âm thượng cổ Hán ngữ của các từ này theo các tác giả Bernhard Karlgren  ( 高本漢 ), William H. Baxter  ( 白一平 ) , Vương Lực  ( 王力 ) … Từ đó rút ra một số nhận xét đánh giá về nguồn gốc lớp từ cổ Việt Hán này.

 1.      Khái quát.

Bài này tiếp tục một số bài viết trước của tác giả về mối quan hệ giữa Hán ngữ cổ đại với các ngôn ngữ họ Nam Á (Austro-Asia). Và đặt vấn đề xem xét lại nguồn gốc của Hán ngữ, phải chăng Hán ngữ có thể không phải chỉ có nguồn gốc Tạng Miến mà còn có một phần có gốc từ họ Nam-Á mà đại diện tiêu biểu là nhóm Mon-Khmer ?

Các nghiên cứu về xếp loại ngôn ngữ cho tiếng Việt đã chỉ rõ rằng, về lớp từ cơ bản tức là lời ăn tiếng nói hàng ngày thì tiếng Việt phải xếp vào họ Nam Á, nhóm Môn-Khmer, phản ánh “tiếng mẹ đẻ” của người Việt chính là tiếng nói của cư dân bản địa vùng châu thổ sông Hồng và xa hơn là miền Trung Việt Nam cổ xưa… nhưng các vấn đề như có thanh điệu phức tạp, xu hướng đơn âm hóa triệt để, kho từ vựng có nhiều từ chung chịu ảnh hưởng của họ Thái-Kadai và Hán-Tạng .v.v. thì lại cho thấy tiếng Việt có thể xếp vào họ Hán Tạng hay Thái-Kadai, đó cũng là cách phân loại của các nhà ngôn ngữ học khoảng năm 1950 về trước, chỉ sau này khi có các số liệu thống kê về số lượng từ cơ bản thì xu hướng xếp tiếng Việt vào họ Nam Á (Mon-Khmer) mới thắng thế.

Người viết cho rằng sau khi vất bỏ các yếu tố hoang đường thì truyền thuyết ghi trong sử Việt về Lạc long quân vốn là dòng dõi Thần Nông có thể phản ánh một sự thực lịch sử, đó là có một nhóm tộc thuộc thị tộc Thần Nông khoảng gần 5000 năm trước đã từ vùng Hồ Động đình dịch chuyển về phía Nam xuống vùng Lưỡng Quảng rồi đi tiếp xuống vùng đồng bằng sông Hồng khoảng hơn 4000 năm trước [2], đó là lúc đồng bằng sông Hồng vừa phát lộ trở lại sau sự kiện “đại hồng thủy” – biển tiến Flandri. Nhóm thị tộc Thần Nông này đã hợp huyết với cư dân bản địa gốc Mon-Khmer ở vùng Thanh Hóa, Hòa Bình cùng tiến xuống biển khai thác vùng đồng bằng vừa mới phát lộ. Cũng theo quan điểm của người viết thì chính cuộc thiên di của thị tộc Thần Nông (Lạc Long Quân) nói trên đã đem đến cho kho từ vựng của người Việt lớp từ “cổ Việt Hán”, lớp từ này tách biệt hẳn về thời gian tới khoảng hai nghìn năm so với lớp từ “Hán Việt” du nhập về sau trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, nên cả người Hán lẫn người Việt bình thường (không phải người nghiên cứu về ngôn ngữ) nhìn qua thì khó hình dung ra nguồn gốc chung của chúng.

Về cội nguồn lớp từ cổ Việt Hán, xuất phát từ chỗ thị tộc Lạc Long Quân vốn là một trong các nhóm tộc Bách Việt thời thượng cổ ở lưu vực Trường Giang (phía Nam hồ Động Đình) chứ không phải nhóm Hán tộc phương Bắc ở lưu vực Hoàng Hà, nên người viết cho rằng lớp từ này có gốc Nam Á hay cận Nam Á, và có thể có pha trộn ít nhiều với họ ngôn ngữ Hán-Tạng và Thái-Kadai, vì vùng Hồ Bắc và Hồ Nam vốn là vùng bản lề tiếp xúc của các nhóm tộc Khương (phía Tây Bắc), Hán (phía Bắc và Đông Bắc) và Bách Việt (phía Đông và Nam), Thái-Kadai (Nam và Tây Nam). Các số liệu dẫn chứng dưới đây cũng cho thấy lớp từ cổ Việt Hán bảo lưu được nhiều vết tích ngữ âm cổ và gần với âm Hán thượng cổ hơn là âm Hán trung cổ, vì vậy người viết đã dùng cách gọi “lớp từ cổ Việt Hán” (đặt chữ Việt trước chữ Hán) để nhấn mạnh nguồn gốc cận phương Nam của lớp từ này.

Về sau khi có cuộc thiên di lớn về phía Bắc và “hòa hợp dân tộc” giữa nhóm thị tộc Thần Nông của Viêm Đế với nhóm Hán tộc “chính gốc” phương Bắc của Hoàng Đế ở lưu vực Hoàng Hà, lớp từ “cổ Việt Hán” này có thể đã tham gia hình thành Hán ngữ thượng cổ. Như vậy Hán Ngữ cổ không hẳn là “thuần Tạng-Miến” mà có thể có một phần pha trộn Mon-Khmer.

Về vấn đề các nhóm tộc cổ xưa ở lưu vực Trường Giang nói một thứ ngôn ngữ phương Nam, dẫn chứng mà các nhà nghiên cứu hay nhắc đến là chữ giang  江 vốn có biểu âm là chữ “công”, phù hợp với các ngôn ngữ phương Nam “krông”=”không”=”sông” … Trong bài viết dự Hội thảo nhân một năm ngày mất Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn [15] người viết cũng có dẫn ra cứ liệu cho thấy từ “địa 地”, phục nguyên âm thượng cổ theo Baxter là “djejs” có thể cùng gốc với tiếng Mon-Khmer “đây” và tiếng Việt “đất”[3]. Hơn nữa nếu dựa vào bản đồ thiên di của người thượng cổ phát nguyên từ Châu Phi như dưới đây thì các nhóm tộc ở lưu vực Trường Giang vốn từ đồng bằng sông Hồng thiên di về phía bắc cách nay khoảng 1,5 vạn năm, nên việc họ nói một thứ ngôn ngữ phương Nam gần với họ tiếng Việt (Mon-Khmer) là việc khá tự nhiên (http://tieba.baidu.com/f?kz=724009126):

 2.      Số liệu thống kê và vài nhận xét ban đầu.

Xin xem hai bảng thống kê về lớp từ cổ Việt Hán ở phần phụ lục dưới đây, tuy chỉ là số liệu thống kê sơ bộ nhưng cũng thấy lớp từ này không phải là nhỏ, bảng 1 có hơn 250 chữ. Các số liệu đó đều rút từ tài liệu phục nguyên âm thượng cổ Hán của các nhà nghiên cứu nổi tiếng như Bernhard Karlgren[4] (高本漢 , Cao Bản Hán), William H. Baxter[5] (白一平 , Bạch Nhất Bình) , Vương Lực[6] (王力) … Lưu ý trong bảng đó chúng tôi chủ ý chọn những từ thuộc, hoặc khá gần, lớp từ cơ bản của tiếng Việt, và tránh những từ có vẻ quá gần với âm Hán Việt (âm Hán Trung cổ) để loại trừ khả năng nó là “đọc trại” của âm Hán Việt diễn ra sau khi VN đã giành lại độc lập.

Vài nhận xét sơ bộ:

-         Những từ đã thống kê phần nhiều đều là những từ khá cơ bản và thông dụng của tiếng Việt.

-         Số lượng từ có thể coi là “thượng cổ Việt Hán” khá lớn dầu mới chỉ thống kê sơ qua, điều đó đủ cho thấy trong tiếng Việt tồn tại một lớp từ còn lưu giữ dấu vết âm Hán thượng cổ cực kỳ xa xưa, theo người viết có thể là từ thời đại Tam Hoàng-Ngũ Đế hay giai đoạn từ Hạ tới đầu Thương.

-         Từ các bảng thống kê thấy Baxter phục nguyên với nhiều tiền âm tố và phụ âm đầu kép nên chúng tôi cho rằng Baxter phục nguyên ở mức xưa hơn Karlgren và Vương Lực, có lẽ Baxter không dừng ở mức thượng cổ Hán ngữ mà đã gần tới mức proto-Tạng-Hán (tiền Hán Tạng ngữ), một số từ phải lần đến mức của Baxter mới nhận ra dấu vết tương quan với từ cổ Việt , như rồng (b-rjoŋ, k- rjoŋ), sông (kroŋ), lúa (luʔ=đạo 稻).

-         So sánh tương đối trong phạm vi bảng thống kê thấy âm Việt hiện đại của các từ cổ Việt Hán có vẻ gần âm thượng cổ Hán nhất, sau đó mới đến âm Mân Nam rồi âm Quảng Đông, còn âm chính thống của tiếng Hán ngày ngay (Pinyin) lại xa âm Hán thượng cổ hơn cả. Điểm ngạc nhiên là xem trên bản đồ thì Quảng Đông gần VN hơn Mân Nam, nhưng nhiều từ cổ âm tiếng Việt có vẻ giống Mân Nam hơn Quảng Đông.

-         Đối với nhóm từ “tươi, lười, tỏi” phục nguyên của 3 tác giả Karlgren, Vương Lực, Baxter đều không có -i cuối mà thống nhất là -n. Nhìn qua ví dụ đó thì tiếng Việt có vẻ như đã biến âm nhiều so với âm thượng cổ trong khi tiếng Hán (tiên  鮮, lãn  懶, toán  蒜) còn giữ khá gần. Nhưng xét kỹ hơn thấy phần biểu âm của chữ “lãn” là chữ “lại”, cho thấy chứng tích của âm cuối -i hay -j thời cổ. Theo GS Nguyễn Tài Cẩn thì thời Kinh Thi nhóm này còn gieo vần với -j , đến Đạo Đức Kinh thì chỉ còn vần với -n, gieo vần với -j còn có thể là -l, -r  nhưng nói chung là -i xưa hơn cả -n.

 

3.      Vấn đề niên đại lớp từ cổ Việt Hán:

1- Từ bảng phụ lục có thể thấy là âm tiếng Việt hiện đại của lớp từ cổ Việt Hán còn bảo lưu được nhiều ngữ âm Hán thượng cổ, thậm chí có vẻ còn gần âm Thượng cổ Hán hơn cả âm Hán Trung cổ tức âm Hán Việt định hình khoảng đời Đường.

- Ví dụ về phụ âm đầu (thanh mẫu) : nhóm từ buồng, buộc, búa, bùa, bay, buôn … còn giữ phụ âm đầu b- thời Thượng cổ, trong khi âm Hán Trung cổ đã chuyển thành f-   (phòng, phọc, phủ, phù, phi, phán …)

- Ví dụ về vần (vận mẫu): các từ vốn vận bộ ca  歌 tiếng Việt vẫn còn giữ được âm cuối -i, phù hợp với vận bộ ca Thượng cổ vốn có âm cuối là -r, -l, -j. Như ngài (nga), vãi (bá), mài (ma), lưới (la), lái (đà), cái (cá), trái (tả) … Xin xem chi tiết hơn ở phần phân tích thống kê ở dưới về những từ cổ Việt Hán có âm cuối “-i” này, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn từng viết: “Ở trường hợp từ thuần Việt, tuổi của âm cuối *-i như vậy là rất cao, vì nó không những lên đến thời Việt Mường chung mà còn lên đến thời Proto Việt Chứt cách đây đã trên 3000 năm. Có thể có trường hợp -i còn có nguồn gốc xa hơn nữa …”, con số trên 3000 năm này ít nhiều gợi ý cho chúng ta mức độ cổ của lớp từ cổ Việt Hán.

2- Về đại để thì âm Hán Thượng cổ thường được hiểu là ngữ âm tiếng Hán thời Chu, tuy nhiên thời Chu dài đến hơn 800 năm, mà một số từ cổ Việt Hán có thể đến thời Tần-Hán vẫn còn giữ ngữ âm thời Chu, cho nên nếu chỉ dựa vào sự giống nhau nêu trên thì vấn đề niên đại lớp từ cổ Việt Hán vẫn còn khá mơ hồ. Để có định lượng chính xác hơn một chút, chúng tôi căn cứ vào một đoạn mà Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn viết trong sách “Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt”, trang 323: “Những tiếng cổ Hán Việt như tươi, lười, tỏi, vãi chứng minh điều đó: đây là những tiếng có âm cuối -*r hay -*l có khả năng gieo vần với những tiếng có -*j ở giai đoạn Kinh Thi, nhưng đến Đạo Đức Kinh thì chúng chỉ còn gieo vần với những tiếng có -*n. Rõ ràng tươi, lười, tỏi, vãi … đã được du nhập trước quá trình diễn biến -r > -*n, nghĩa là trước thời Tây Hán khá lâu”.

Thời Đạo Đức Kinh là khoảng 600 năm trước CN, còn thời Kinh Thi là khoảng đầu thời Chu, 1000 năm trước CN, như vậy bước đầu chúng ta đã có những con số định lượng tương đối cụ thể cho niên đại lớp từ cổ Việt Hán, việc khảo sát chính xác hơn cần có thời gian.

3- Thêm một dẫn chứng có thể quy kết về niên đại, đó là phục nguyên âm cổ của chữ “chỉ”  趾 (chân), mà chúng tôi từng đưa ra ở bài viết trước [15]. Xin tóm tắt lại như sau: chữ chỉ趾nghĩa là chân, phục nguyên âm Thượng cổ theo Karlgren: ȶi ̯əg, trong khi từ “chân” của tiếng Việt theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn thời cổ vốn có âm cuối -ŋ, trong sách “Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt” trang 199  Giáo sư viết: “… chúng ta chỉ có hai ví dụ là từ chân và lên (và liên quan tới lên là từ trên). Ở hai từ này có lẽ ta phải phục nguyên  *-ŋ cho thời Proto Việt Chứt, hay chậm nhất thì cũng cho thời Proto Pọng Chứt chung”. Mà Proto Việt Chứt là khoảng hơn 3000 năm trước, tức là cuối đời Thương, tại thời điểm đó đã có sự đối ứng giữa âm cuối -g của Hán ngữ với -ŋ tiếng Việt cổ, còn thấy qua việc chữ “chi”  之 (là chữ vận bộ của chỉ  趾 , cũng có phục nguyên ȶi ̯əg) trong tiếng Việt được dịch thành “chưng”. Người viết ước đoán -g khi đó thực ra không đồng nhất đồng nhất hoàn toàn với -ŋ, mà thời điểm đồng nhất có thể còn xa hơn cả nghìn năm trước, tức là ứng với giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương, có thể khi đó âm cuối  -g  và -ŋ  của “chỉ” và “chân” đồng nhất vào âm cuối -ʔ, giống như phục nguyên của Baxter là : tjəʔ .

4- Mức độ “vượt thượng cổ” của lớp từ cổ Việt Hán còn có thể thấy ở một từ đặc biệt, đó là từ thoát 脫 (lọt):

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt HánViệt pinyin
(Đường âm)
t’wɑt thuat hlot lọt  thoát  tuo1
Baxter phục nguyên là hlot, khác rất nhiều âm Pinyin “tuo1” cũng như âm trung cổ (Đường âm) “thoát”, nhưng lại khá gần với tiếng thuần Việt “lọt”, người Việt vẫn hiểu “thoát lưới” cũng như “lọt lưới”…

Nếu ai còn nghi ngờ việc phục nguyên của Baxter thì xin xem thêm tài liệu [9] của chính người TQ, cũng phục nguyên âm thượng cổ Hán của  脫  là *hluat và còn cho cả âm Proto Tạng-Miến của nó là *g-lwat như hình dưới, chụp từ tài liệu [9], tài liệu này cũng ủng hộ nhận xét của chúng tôi là Baxter đã phục nguyên rất xa, tới gần thời Proto Hán-Tạng:

 

 4.      Vấn đề nguồn gốc lan truyền lớp từ cổ Việt Hán:

 Khoảng thời gian 1000-600 năm TCN tạm định ra ở mục trên tách xa hẳn với thời Bắc Thuộc, vậy những từ cổ Việt Hán truyền vào Việt Nam qua đường nào ? Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có đưa ra cách giải thích là nhiều từ gốc Hán người Việt mượn gián tiếp qua Thái-Kadai, ở trang 322 “Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt” Giáo sư viết : “Các từ như ngan, bừa, cuốc, vãi, phân, bánh, mùa, cam, quýt, tỏi, ao, đầm, chèo… cũng đều có thể là từ gốc Hán; nhưng rất có thể chúng được du nhập vào ngôn ngữ Việt-Mường thông qua Thái-Kadai”. Tuy nhiên các cứ liệu di truyền học Y-ADN mới công bố gần đây lại cho thấy các chỉ số di truyền Y-ADN của người Việt khá xa với nhóm Tày-Nùng ở biên giới Việt-Trung mà lại gần với người Hán Quảng Đông, Quảng Tây và nhóm Choang ở vùng Nam Ninh, thủ phủ Quảng Tây, phía bắc sông Châu Giang. Cho nên người viết đi đến nhận định rằng lớp từ cổ Việt Hán đó là của tổ tiên người Việt truyền lại từ rất xưa, nhiều từ gốc gác có thể trước cả thời Chu nữa, chứ không phải là mượn của Hán ngữ gián tiếp qua Thái-Kadai, và với mức cổ như thế thì cũng không thể nói là mượn của Hán tộc nữa, chẳng qua là quan hệ cùng một gốc xuất xứ thôi. Khoảng 1000-600 năm TCN tức là trước giai đoạn Bắc thuộc khá lâu nên khó có thể cho là người Việt “học” lại người Hán lớp từ này trong thời Bắc thuộc rồi đọc trại đi như ý kiến của một số người.

Từng có giả thuyết cho rằng người Việt (Kinh) vốn từ vùng trung Việt hay trung Lào tiến ra xâm chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ của dân Thái-Kadai, hòa trộn với Thái-Kadai và sau đó đã học nghề trồng lúa cùng với nền văn minh nông nghiệp của dân Thái-Kadai… từ đó nhận định rằng nhóm Thái-Kadai mà đại biểu hiện nay là người Choang, Tày, Nùng  mới đúng là cư dân cổ xưa ở vùng đồng bằng sông Hồng chứ không phải dân Kinh. Nhưng niên đại của sự kiện trên có thể khoảng 3500 năm trước[7], tức là rất xa xưa, trước thời Bắc thuộc đến ngàn rưởi năm, trước cả lúc hình thành nền văn minh trống đồng của các nhóm tộc Lạc Việt, nên không thể tách rời người Việt (Kinh) khỏi nền văn minh Lạc Việt cổ với thể hiện tiêu biểu là trống đồng được. Sau đây là vài số liệu so sánh ngôn ngữ về các từ liên quan tới nghề nông giữa hai nhóm Việt-Mường và Thái-Kadai (gồm Tày và Thái đen là hai nhóm Thái-Kadai có địa bàn cư trú tiếp giáp với người Việt) cho thấy giả thuyết trên có điểm đáng ngờ:

Tiếng Việt Tiếng Mường Tiếng Tày Thái đen Tiếng Hán Chữ Hán
Trâu Tlu Vài Quãi Thủy ngưu  水牛
Ngúa Ngưu
Cày Cằl Thay Thay Canh
Bừa Pừa Phưa Ban Sừ
Ruộng Điền
Mạ Chả Cả Miêu
Lúa Khẩu Khảu Hòa, Đạo 禾稻
Thóc ? Khẩu Khảu Đạo, Mễ,Cốc 稻米穀
Gạo Cảo Khẩu Khảu Mễ, Cốc 稻米穀
Rơm Thóc Vàng Phưỡng Đạo can 稻杆
Rạ ? ? Phưỡng Đạo can 稻杆
           

Nhận xét bảng trên:

1- Các từ căn bản liên quan tới nghề trồng lúa tiếng Việt khác nhóm Thái-Kadai nhiều.

2- Tiếng Việt có các từ phân biệt rất chi tiết từ cây mạ cho tới cây lúa, hạt thóc, hạt gạo, rơm, rạ … trong khi Thái gọi chung thóc, lúa, gạo là “khảu”, gọi chung rơm, rạ là “phưỡng”. Tiếng Việt cũng có từ riêng “nghé” để gọi trâu con, còn bò con có tên riêng là “bê”.

3- Con trâu là đầu cơ nghiệp nhà nông nhưng tiếng Việt “trâu” hay tiếng Mường “tlu” lại khác hẳn tiếng Thái đen “kvai” (quãi) và tiếng Tày “vài” (còn đọc là “hoài”), còn con bò tiếng Việt (hay mò tiếng Mường) cũng khác hẳn tiếng Thái đen “ngúa” (có lẽ ngúa cùng gốc với ngưu của nhóm Hán-Tạng ?). Trong lúc đó người Di tận Quý Châu TQ lại gọi con bò là “lɯ” khá giống với tiếng Việt Mường cổ gọi con trâu là “t-lu” … Người Di có thể từng là cư dân cổ xưa vùng Hồ Bắc, Hồ Nam, trong đó có vùng Tương Giang ở Hồ Nam từng được các nhà nghiên cứu TQ gọi là “Cổ Lạc Việt chi địa”, người Di cũng là một trong số ít tộc gốc Hán Tạng nhưng lại có một phần M88, là nhóm nhiễm sắc thể Y-ADN đặc trưng của người Kinh.

4- Người  Tày gọi con bò là “mò”, gọi bừa là “phưa”, gần giống tiếng Mường (là lưu ảnh của tiếng Việt cổ) nhưng có thể chính Tày đã mượn của Việt – Mường, vì so sánh thì Thái đen (ở vùng Tây Bắc VN, vốn từ Vân Nam thiên di xuống) gọi bò là “ngúa”, bừa là “ban”, có lẽ đó mới đúng là từ gốc Thái-Kadai.

5- Đặc biệt thú vị là vấn đề từ nguyên của cày/canh:

Từ “cày” trong tiếng Mường là “cằl” (theo từ điển Mường-Việt, Nguyễn Văn Khang chủ biên). Tiếng Việt không phát âm được phụ âm cuối -l nên ký âm “cằl” thường bị đọc ra “cằn”, nhưng xét cấu âm thì có lẽ “cằl” gần với “cănh” hay “canh” hơn, tức đọc gần giống từ Hán Việt “canh  耕” cũng có nghĩa là “cày” (Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt của GS Nguyễn Tài Cẩn cho biết có nhiều từ tiếng Việt có âm cuối -i, -y vốn gốc từ âm cuối -r, -l, -j tiếng tiền Việt-Mường). Nếu dựa theo các vết tích khảo cổ về nghề trồng lúa ở đồng bằng Bắc Bộ từ cả ngàn năm trước Công nguyên và hiện tượng là tiếng Việt không có từ nào khác thay thế cho “cày” cả thì phải mạnh dạn đặt giả thuyết cằl/cày là một từ mà tổ tiên Việt-Mường đã truyền lại từ thời xa xưa, trước thời kỳ Bắc Thuộc rất lâu, chứ không phải Việt-Mường mới đi mượn từ “canh” của Hán tộc sau khi bị đô hộ rồi đọc trại ra “cằl” rồi thành “cày”, và càng không phải là tiếp thu từ “thay” của nhóm Thái-Kadai.

Về nguồn gốc phương Nam của “canh”, “cằl”, “cày” tạm thời chưa bàn sâu vì vấn đề này dễ gây tranh cãi lạc đề. Tuy nhiên cũng phải nói thẳng ra rằng thời đại “Thần Nông”, ông tổ nghề trồng lúa, vốn cũng chỉ là truyền thuyết, chưa có cứ liệu khoa học chắc chắn nào chứng minh thị tộc Thần Nông là gốc Hán tộc ở Hoàng Hà, là gốc Khương ở Tứ Xuyên hay là gốc Bách Việt ở Trường Giang cả. Còn nếu đơn thuần căn cứ vào vị trí địa lý của lăng Viêm Đế thì lăng này ở huyện Viêm Lăng, tỉnh Hồ Nam, phía đông nam Hành Dương thị khá xa về phía nam của hồ Động Đình, lại nằm ngay trong vùng đất “Cổ Lạc Việt chi địa”, rất xa với vùng lưu vực Hoàng Hà, cội nguồn của Hán tộc. Vùng Tương Giang “Cổ Lạc Việt chi địa” này vốn là đất “man di”, mãi đến khoảng thế kỷ 3-4 trước CN mới bị nước Sở thôn tính, rồi sau đó nhập vào TQ thời Tần, Hán [8].

Continue reading

Về những địa danh “thuần Việt” thời Hùng Vương

(Tạp chí Thông tin Khoa học & Công nghệ TT-Huế, 4-1996)

Trong bài “Nước Văn Lang và cương vực của nó qua tài liệu ngôn ngữ học” (1), Hoàng Thị Châu đã cho rằng yếu tố “Kẻ” và những địa danh đi liền sau nó như “Mẩy”, “Cót”, “Vòng”, v.v.. (thành “Kẻ Mẩy”, “Kẻ Cót”, “Kẻ Vòng”, v.v..) là những tên Nôm làm thành một “hệ thống tên xã thôn (…) hoàn toàn khớp với cương vực nước Văn Lang được ghi lại trong truyền thuyết dựng nước” (2). Sau đó, nhiều người đã xem đây gần như là điều hiển nhiên, không cần phải lật đi lật lại, rồi Nguyễn Linh, trong Thời đại Hùng Vương (3), đã lấy lại lập luận của Hoàng Thị Châu để phổ biến cho người đọc như là những tín điều chẳng có gì cần phải bàn cãi. Thực ra, lập luận của hai tác giả trên đây đã có những chỗ sơ hở rất quan trọng nên không thể chống đỡ được cho kết luận mà họ muốn mọi người đều xem là sự thật hiển nhiên. Chúng tôi đã có phản bác một phần của lập luận đó và chứng minh rằng “kẻ” là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ  mà âm Hán Việt thông dụng hiện đại là giới, âm Hán Việt hiện đại ít thông dụng hơn là giái, còn âm chính thống thì lại là cái (“cổ bái thiết”) (4). Vì vậy, trong bài này chúng tôi sẽ không trở lại với từ “kẻ” mà chỉ chứng minh rằng những cái gọi là tên Nôm hoặc “thuần Việt” như Mẩy, Cót, Vòng, v.v.. chẳng qua chỉ là âm xưa của những chữ Hán nay đã được đọc theo âm Hán Việt hiện đại mà thôi.
Để bắt đầu, xin phân tích tên  là một địa danh cổ xưa từ lâu đã trở thành quá quen thuộc với người Hà Nội. Địa danh này có liên quan đến tên Hán Việt hiện đại của các làng Hoàng Mai, Tương Mai và Mai Động. Theo Bùi Thiết thì:
“Hoàng Mai và Tương Mai có tên Nôm là Kẻ Mơ hay gọi là làng Mơ nhưng Hoàng Mai là Mơ Rượu vì làng này có nghề nấu rượu cổ truyền với rượu mơ nổi tiếng thời trước, còn Tương Mai là Mơ Cơm vì làng này chuyên bán hàng cơm. Làng Mai Động cũng gọi tên Nôm là Mơ nhưng gọi là Mơ Táo. Kẻ Mơ hay ba làng Mai nói chung nằm kề góc đông nam của kinh thành Thăng Long xưa, được khai phá từ rất sớm (…) Thời nhà Trần, khu vực này là thái ấp Cổ Mai (hay trang Cổ Mai) mà các vua nhà Trần phong cấp cho anh em Trần Khát Chân và Trần Hãn” (5).
Thực ra, chẳng phải chỉ có Hoàng Mai, Tương Mai và Mai Động mới có tên “Nôm” là ; các làng cổ mà tên Hán Việt hiện nay có yếu tố Mai, ghi bằng chữ , thì đều có tên “Nôm” là . Thôn Mai Châu, thuộc xã Đại Mạch, một trong 23 xã của huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, cũng có tên “Nôm” là làng  (6). Thôn Mai Trai, thuộc xã Vạn Thắng, một trong 32 xã của huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội, cũng có tên “Nôm” là làng  (7).
Cái mà Bùi Thiết, và nhiều người khác nữa gọi là tên Nôm trên đây, chẳng qua chỉ là âm xưa của yếu tố Hán Việt hiện đại mà thôi:  là âm xưa của mai . Điều này đã được ngữ âm học lịch sử khẳng định và sau đây là lời của Nguyễn Tài Cẩn:
“Hiện ta có từ  là dạng cổ Hán Việt ứng với cách đọc Hán Việt maiMai là kết quả của cả một quá trình diễn biến  *əj > oj > aj.  là dạng vay mượn vào lúc âm cuối *-j chưa xuất hiện trong tiếng Hán: theo giới Hán ngữ học, mơ phải được vay trong khoảng từ 1500 năm trở về trước. Mà trong thời cổ đại đó thì – cũng theo sự phục nguyên của giới Hán ngữ học – từ mai đang có vần mở là *ə; vần *ənày không chỉ có mặt trong thời Đông Hán, Tây Hán mà còn lên đến tận thời Kinh Thi” (8).
Cứ như trên thì  là dạng cổ của mai nhưng trong tiếng Việt hiện đại thì giữa hai từ cùng gốc này đã có một sự phân công rành mạch về ngữ nghĩa: Mơ là một loại cây mà tên khoa học là Prunus armeniaca Lin, thuộc họ hoa hồng (Rosaceae); còn mai thì lại là một loại cây mà tên khoa học là Prunus mume S. et Z., cũng thuộc họ hoa hồng như cây mơ (9). Một sự phân công như thế là điều hoàn toàn dễ hiểu và đây là một hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ, chẳng hạn cùng một gốc Germanic mà tier của tiếng Đức có nghĩa là thú vật nói chung còn deer của tiếng Anh thì chỉ là hươu, nai.
Trở lên, sở dĩ chúng tôi phải dài dòng như thế là để chứng minh rằng, dù diễn biến ngữ âm và ngữ nghĩa của nó có quanh co đến đâu thì mơ vẫn là một yếu tố mà lai lịch có thể được xác minh một cách rõ ràng và đó rõ ràng là một từ Việt gốc Hán có liên quan đến chữ/từ  mai . Đó dứt khoát không phải là một yếu tố Nôm, thuần Việt hoặc Việt cổ và đây tất nhiên không phải là trường hợp duy nhất vì ngoài nó ra thì còn rất nhiều, rất nhiều ca giống như nó mà sau đây chỉ là thêm một số thí dụ, cũng lấy từ sách đã dẫn của Bùi Thiết (số ghi trong ngoặc đơn sau mỗi thí dụ là số trang trong sách này):
Núc là âm xưa của Canh Nậu (32); Vài, của Ngọc Nhị (35); Gượm, của Cần Kiệm (37); Noi, của Cổ Nhuế(52); Vườn, của Cổ Nhuế Viên (52); Núc, của Dị Nậu (56); Vòng, của Dịch Vọng (57); Mẩy của Mễ Trì (57); Cói, của Cối Giang (85); Hóc của Minh Húc (93); Tạnh của Quán Tình (104); Then, của Kim Sơn(130); Keo, của Giao Tất (130); Bưởi của Bái Ân (155), Nghè, của Trung Nha (157); Bún, của Phấn Hạ (160); Vẹt, của Việt Yên (163); Mọc, của Nhân Mục (164); Nành, của Phù Ninh (167); Sủi của Thổ Lỗi(183): Gùn, của Siêu Quần (212), Ngâu, của Yên Ngưu (218); Ngà, của Miêu Nha (231); Đìa, của NgọcTrì (232); Gạch, của Ô Cách (244, 245); Cót, của Yên Quyết (268); Lềnh, của Linh Thượng (284);Ngò, của Ngô Khê (286); v.v..
Trong những cặp tương ứng trên đây, tiếng đầu (Núc, Vài, Gượm, v.v..) là âm xưa, còn tiếng sau (Nậu, Nhị, Kiệm, v.v..) là âm nay của cùng một chữ Hán trong những địa danh hữu quan và sự tương ứng đó là hoàn toàn nhất quán trong các địa danh chỉ nhiều địa phương khác nhau, thậm chí cách nhau rất xa. Thí dụ: Núc không chỉ là âm xưa của Nậu trong Canh Nậu, Dị Nậu, nay thuộc ngoại thành Hà Nội, mà còn là âm xưa của cả Nậu  trong tên của xã Dị Nậu, ở gần Tam Đảo, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. Then không chỉ là âm xưa của Sơn  trong Kim Sơn nay thuộc ngoại thành Hà Nội mà còn là âm xưa của cả Sơn trong địa danh Bình Sơn, nơi có tháp Bình Sơn nổi tiếng, tục gọi là tháp Then, thuộc tỉnh Phú Thọ hiện nay. Gạch không chỉ là âm xưa của Cách   trong Ô Cách nay thuộc ngoại thành Hà Nội mà còn là âm xưa của cả Cách trong địa danh Bình Cách, thuộc huyện Đông Quan (cũ), tỉnh Thái Bình.
Vậy Núc, Then, Gạch, v.v.. và tất cả các tiếng đầu trong những cặp tương ứng trên đây không phải là những tên Nôm, thuần Việt, hoặc Việt cổ như Bùi Thiết và nhiều nhà nghiên cứu khác đã ngộ nhận. Nếu tiếng đầu trong những cặp trên đây là Nôm, là thuần Việt còn tiếng sau là hình thức phiên âm thì không làm sao có được sự tương ứng nhất quán đến cao độ như đã thấy từ địa phương này sang địa phương khác, có khi cách nhau rất xa:
– Gạch ở gần Hà Nội cũng được phiên bằng Cách như Gạch ở Thái Bình mà lại không phiên bằng Kịch, chẳng hạn;
– Then ở gần Hà Nội cũng được phiên bằng Sơn như Then ở tận Phú Thọ mà lại không phiên bằng Thiên, chẳng hạn;
– Đặc biệt, Núc ở gần Hà Nội cũng được phiên bằng Nậu y hệt như Núc ở tận Vĩnh Phúc mà lại không phiên âm bằng Nục, chẳng hạn. Trường hợp này đáng được nói kỹ hơn một chút: Sự tương ứng Nậu ~Núc chỉ có thể được chứng thực bằng chính lịch sử ngữ âm và lịch sử văn tự của tiếng Hán mà thôi. Và điều này, khi đã được đặt vào bối cảnh chung của tiếng Hán thì sẽ hoàn toàn chẳng có gì là khác thường cả, vì về mối tương ứng âu ~ uc thì người ta còn có, chẳng hạn: – chữ  vừa đọc mậu vừa đọc mục; – chữ dục (không có trong font Hanosoft ) vừa hài đậu  vừa hài thục    ; – chữhữu (= có) hài thanh cho chữ úc  còn bản thân nó lại có âm xưa là dẫu trong “dẫu sao”, “dẫu rằng”, xưa hơn nữa là dầu trong “mặc dầu” (dầu = có → có sao đi chăng nữa thì cũng  hư từ hóa = mặc dù, dù sao); – chữ   cũng đọc câu, xét ngược lên lối triện, chỉ là một biến thể của chữ cục  ; v.v.. Và cuối cùng, chính B. Karlgren đã phục nguyên cho chữ  âm thượng cổ là *nug, đối lập với âm nay là nou (10).
Sự tương ứng nhất quán đến cao độ trên đây là một chỗ dựa chắc chắn để khẳng định rằng những cặp từ đang xét chỉ là âm xưa và âm nay của những chữ Hán hữu quan. Nếu là phiên âm thì, dù âm gốc có là một, từ địa phương này sang địa phương khác, kết quả phiên âm thế nào cũng có sai biệt, và có khi khác nhau rất xa. Cứ nhìn vào các hình thức phiên âm từ tiếng Sanskrit thì có thể thấy ngay vấn đề. Nhiều từ Sanskrit có đến hai hình thức phiên âm khác nhau bằng tiếng Hán, có khi ba, bốn,… Ngay một từ quen thuộc nhất và tôn nghiêm nhất của Phật giáo là Buddha thì cũng có ít nhất là ba: Phật Đà, Phật Đồ và Phù Đồ.
Đã rõ những yếu tố đang xét không phải là những tên Nôm. Hoàng Thị Châu còn biện luận rằng “sự tồn tại lâu đời của tên Nôm còn thể hiện ra ở chỗ nó là những từ khó hiểu, nhiều từ không tìm thấy trong từ vựng tiếng Việt hiện đại” (11). Ý kiến này hoàn toàn không thể đứng vững được vì tính khó hiểu đâu có phải là chỗ dựa để xác định “ngữ tịch”! Ngày nay những người không thông thạo tiếng Hán khó mà biết được vưu trong vưu vật, chẳng hạn, có nghĩa là gì. Nhiều trí thức, nhà văn, nhà báo vẫn gọi nhược điểm là “yếu điểm” vì không biết rằng yếu có nghĩa là quan trọng. Vậy chẳng lẽ đó không là những từ khó hiểu? Nhưng chẳng lẽ vì chúng khó hiểu mà khẳng định rằng chúng là Nôm? Mà lại còn là Nôm lâu đời! Sự vắng mặt của một từ trong từ vựng của tiếng Việt hiện đại cũng không thể là bằng chứng cho “ngữ tịch” Nôm của nó được. Xin đơn cử một thí dụ. Nhà nghiên cứu Hán Nôm nào cũng biết rằng cóc là một từ Việt gốc Hán có nghĩa là biết. Đây là một từ cổ không còn tìm thấy trong từ vựng của tiếng Việt hiện đại nữa. Vậy có lẽ nào nó ắt phải là Nôm?
Thực ra, sở dĩ những địa danh như Noi, Cót, Vòng, v.v.., khó hiểu thì chỉ vì chúng là dạng tắt của những địa danh hai tiếng, nghĩa là chúng đã bị tách khỏi cái cấu trúc song tiết hoàn chỉnh trong đó ý nghĩa của địa danh mới được bộc lộ đầy đủ. Đã thế, chúng lại còn là âm xưa của những chữ Hán mà âm nay đã khác đi ít hoặc nhiều (Noi ~ Nhuế; Cót ~ Quyết; Vòng ~ Vọng; v.v..) nên khó nhận diện đến nỗi nhà nghiên cứu cũng còn phải nhầm chúng là… Nôm!
Một cái tên như Gùn quả là khó hiểu nếu nó hoàn toàn đứng riêng ra một mình. Nhưng khi địa lý lịch sử cho phép gắn nó với tên đầy đủ và hiện đại là Siêu Quần, rồi những thao tác từ nguyên học lại cho phép khẳng định mối tương ứng gùn ~ quần  thì mọi sự sẽ trở nên sáng tỏ. Thật vậy, bản thân chữquần là một trong 36 tự mẫu của Thiết vận mà giá trị ngữ âm cổ xưa đã được khẳng định là [g] dễ chuyển hóa với [γ]    của gùn trong tiếng Việt ngày nay, vậy bước đầu chúng ta đã có:
] ~ [k]         (1)
biết rằng q- ở trong quần chính là [k]. Ngoài ra, chúng ta lại còn biết thêm được rằng âm xưa của vận -uân là -un với các thí dụ: hun (khói) ~ huân 熏 (= xông khói); (đống) un ~ uân 熅 (= khói đặc bốc lên); (dây) thun ~ thuân 逡 (= rụt lại, lùi lại) v.v.. Vậy chúng ta còn có:
un ~ uân          (2).
Phối hợp (1) với (2) thì sẽ thấy rằng gùn ~ quần là hoàn toàn đúng quy luật. Quần là đám đông, bầy, đàn, bọn. Siêu  , mà âm xưa là xéo (trong “giày xéo”) có nghĩa là nhảy qua, vượt qua. Vậy Siêu Quầncó nghĩa là vượt lên trên đám đông, là xuất chúng. Đây vốn là tên của một xã thuộc tổng Đại Định, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Địa danh này cũng đồng nghĩa với địa danhSiêu Loại, vốn là tên của một huyện thuộc phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc. Siêu Quần xưa hẳn phải được phát âm thành *Xéo Gùn và thường được gọi tắt thành Gùn. Vậy Gùn là một địa danh Việt gốc Hán chánh cống chứ không phải  là thuần Việt, là Nôm.
Các địa danh đơn tiết khác cũng có thể được truy nguyên và tầm nghĩa một cách chính xác như từ Gùntrên đây. Đìa là âm xưa của Trì trong Ngọc Trì có nghĩa là ao ngọc; vậy Đìa có nghĩa là ao. Núc là âm xưa của Nậu trong Canh Nậu có nghĩa là cày bừa; vậy Núc có nghĩa là bừa. Vài là âm xưa của Nhịtrong Ngọc Nhị có nghĩa là hoa tai ngọc; vậy vài là hoa tai. Noi là âm xưa của Nhuế trong Cổ Nhuế có nghĩa là khúc sông xưa (nay đã được bồi); vậy noi là khúc sông uốn quanh. Vườn là âm xưa của Viêntrong Cổ Nhuế Viên có nghĩa là vườn ở khúc sông xưa (hoặc vườn Cổ Nhuế); vậy vườn có nghĩa là… vườn. Vòng là âm xưa của Vọng trong Dịch Vọng có nghĩa là (nơi) mong chờ tin trạm; vậy vòng có nghĩa là mong, ngóng (và đây cũng là một điệp thức của “mong” trong “chờ mong” và của “mòng” trong “chốc mòng”). Mẩy là âm xưa của Mễ trong Mễ Trì có nghĩa là ao gạo; vậy mẩy có nghĩa là gạo. Hóc là âm xưa của Húc trong Minh Húc có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, vậy hóc có nghĩa là rực sáng v.v.. NếuGùn, Đìa, Núc, Vài, Noi, v.v.. không từng là những từ độc lập thì ít nhất chúng cũng là những hình vị gốc Hán có nghĩa minh xác và cụ thể. Đây là một điều chắc chắn. Vậy thật là vô căn cứ nếu không truy nguyên và tầm nghĩa cho khách quan và chính xác mà cứ theo định kiến để khẳng định rằng những địa danh thuộc loại trên đây là thuần Việt hoặc Việt cổ.
Đến đây, tưởng cũng nên nhân tiện xác định lại cho rõ ràng và rành mạch nội dung của hai khái niệm “tên Nôm” và “tên chữ”. Hoàng Thị Châu đã viết: “Tên Nôm hiện nay đang bị quên dần vì ít được dùng nhưng nó đã tồn tại rất lâu. Trước đây trong một thời gian dài nó tồn tại song song với tên Hán-Việt, với sự phân công khá rõ ràng: tên Nôm dùng để gọi, tên Hán-Việt dùng để viết. Do đó mà tên Hán-Việt còn được gọi là tên chữ” (12). Nhưng, như đã phân tích ở trên, cái gọi là tên Nôm cũng phải được ghi, được viết: Gùn viết là  , Đìa:  , Núc:  , Vài: , Noi:    , Vườn:    , Vòng:     , Mẩy:  , Hóc:  , v.v.. Còn cái gọi là tên chữ thì cũng dùng để… gọi. Vậy cả hai loại đều là những tên chữ. Chẳng qua, như đã phân tích, “tên Nôm” là âm xưa còn “tên chữ” là âm nay của cùng một chữ Hán mà thôi. Vậy sự phân biệt thành “tên Nôm” và “tên chữ” như Hoàng Thị Châu và nhiều người khác đã chủ trương chỉ là một sự phân biệt giả tạo.
Cứ như đã phân tích thì ý tưởng dựa vào những địa danh “Nôm” như trên, mà lại có cả yếu tố Kẻ đứng trước, để vẽ lại cương vực của nước Văn Lang thời các vua Hùng là một ảo tưởng: những cái tên đóchỉ là những địa danh của bọn cai trị Tàu đặt ra để phân cấp và quản lý đất nước của chúng ta về mặt hành chính, hoặc là những địa danh mà chính chính quyền phong kiến tự chủ của ta đặt ra bằng những yếu tố mà ta đã mượn của Tàu. Sự thể khó lòng mà khác hơn thế được.
Vậy có lẽ nào trong toàn bộ hệ địa danh Việt Nam lại không có những trường hợp dùng tiếng Hán để phiên âm tiếng bản địa? Chúng tôi tuyệt nhiên không cho là không có. Chỉ xin nhấn mạnh rằng đó là những trường hợp cần được phân tích một cách thực sự cẩn trọng vì thực ra yếu tố được phiên âm chưa hẳn đã là yếu tố Việt đích thực, vì đã nói đến địa danh phiên âm thì con đường diễn tiến lắm khi lại rất quanh co. Chẳng hạn, ai lại không biết rằng Móng Cái là một địa danh Việt Nam. Nhưng địa danh này không phải là tiếng Việt “gốc” vì nó chỉ là một hình thức phiên âm từ tiếng của người Quảng Đông là Moòng Cái mà họ ghi bằng hai chữ 芒街 , đọc theo âm Hán Việt hiện đại là Mang Nhai. Vậy hai chữMang Nhai chẳng có liên quan gì đến Móng Cái vì nó chỉ dùng để ghi âm hai tiếng Moòng Cái của phương ngữ Quảng Đông mà thôi. Cho nên nếu nói rằng hai chữ Hán trên đây dùng để phiên âm “tiếng Việt” Móng Cái là đã đem râu ông nọ cắm cằm bà kia tới hai lần! Đến như hai tiếng Cổ Loa mà lại là dùng để phiên âm tiếng Việt cổ Klủ như có người đã từng truyền giảng thì chúng tôi hoàn toàn không tin (13).
Tóm lại trong toàn bộ các địa danh Việt Nam liên quan đến địa bàn cư trú của người Việt thời xưa, chắc chắn có những trường hợp là những chữ Hán dùng để phiên âm tiếng bản địa nhưng cũng chắc chắn những trường hợp đó là thực sự ít ỏi. Tuyệt đại đa số thì lại là những địa danh song tiết đặt bằng chữ Hán. Trong số đó, có nhiều địa danh thực sự cổ xưa, thường được gọi tắt bằng một trong hai âm tiết hữu quan, âm tiết này lại được đọc theo âm Hán-Việt xưa, khó nhận diện, nên nhiều người, đặc biệt là các học giả và các nhà nghiên cứu, cứ ngỡ rằng chúng là thuần Việt, là Nôm!
(1) Hùng Vương dựng nước, t.1, Hà Nội, KHXH, 1970, tr.136-143.
(2) Bđd, tr.141.
(3) Hà Nội, KHXH, 1973, tr. 40-85.
(4) Xin xem: An Chi, Chuyện Đông chuyện Tây, Kiến thức ngày nay, số 229, tr.51-53.
(5) Làng xã ngoại thành Hà Nội, Hà Nội, 1985, tr.116, 74-75 và 276.
(6), (7) Làng xã ngoại thành Hà Nội, Hà Nội, 1985, tr.116, 74-75 và 276.
(8) Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Giáo dục, 1995, tr.176-177.
(9) Theo Đỗ Tất Lợi, “Cây mơ, cây mai dưới con mắt người làm công tác khoa học”, Nhân dân, số 10468, 22-3-1983.
(10) Grammata Serica Recensa, Stockholm, 1964, p.314, 1223e.
(11) Bđd, tr.140
(12) Bđd, tr.140
(13) Xin xem: Trần Quốc Vượng, “Từ việc nghiên cứu một số tên riêng trong các truyền thuyết nói về thời kỳ dựng nước”, Tạp chí Văn học, 2-1969, tr.72. Chỉ riêng một việc là ở vào thời xa xôi đó mà cái từ “Klủ” lại có thanh điệu 4 (?) cũng đủ để làm cho nhà ngữ âm học lịch sử chín chắn phải kinh ngạc!