Ghi lại câu đối viếng thầy Nguyễn Đình Thảng

Năm 2007 thầy Nguyễn Đình Thảng mất, tại hạ được Hội Bảo tồn Di Sản chữ Nôm nhờ chuyển vòng hoa viếng, bèn cùng người bạn là Nguyễn Thế đi xe đò từ Huế vào Quảng Ngãi để viếng thầy Thảng.
Tại hạ vốn không phải môn đồ của thầy Thảng, nhưng cũng có học qua trường Đại học Tổng hợp Huế lúc thầy Thảng làm chủ nhiệm khoa Văn. Khi làm cuốn sách “Truyện Kiều chữ Nôm” cùng Nguyễn Thế đã nhờ thầy Thảng làm người hiệu đính chữ Nôm, nên có cái nghĩa “nhất tự vi sư”.
Tối đó ở lại nhà thầy Thảng, tại hạ có làm 1 câu đối viếng theo kiểu chiết tự, nay xin đưa lên đây kẻo lâu quên mất.

一子一媳一孫遺一字三星朝月
其科其徒其友彳其傍十四一心

Nhất tử nhất tức nhất tôn, di nhất tự tam tinh triều nguyệt.
Kỳ khoa kỳ đồ kỳ hữu, sách kỳ bàng thập tứ nhất tâm.

Chú thích:
– Tam tinh triều nguyệt là chiết tự chữ TÂM 心
– Sách kỳ bàng thập tứ nhất tâm là chiết tự chữ ĐỨC 德
Ý câu trên là thầy Thảng chỉ có một con trai, một con dâu và một cháu trai, và để lại chỉ một chữ tâm, lại có ý là 3 người quây quần quanh Thầy.
Còn câu dưới là mô tả cảnh các vòng hoa của Khoa, Trường, học trò và bạn bè xếp quanh linh cữu, và cũng ám chỉ hình ảnh đội khiêng linh cữu.

Xin đọc bài dưới đây của Cao Tự Thanh, một cao đồ “chân truyền” của thầy Thảng để biết thêm về thầy Thảng.

=======

亨甫阮庭先生墓誌銘
Hanh Phủ Nguyễn Đình tiên sinh mộ chí minh

着作留名天下易
以身爲敎世間難

Trước tác lưu danh thiên hạ dị,
Dĩ thân vi giáo thế gian nan.

Ôi, viết sách lưu danh là chuyện dễ dưới gầm trời, Lấy mình dạy người mới là điều khó trên thế gian, điều ấy quả đúng với Hanh Phủ Nguyễn Đình tiên sinh vậy.

Tiên sinh họ Nguyễn Đình, húy Thảng, hiệu Hanh Phủ, ngườI xã Bình Phước huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Tiên sinh là người quân tử đạt đạo chí thành lại là kẻ trung ẩn nép mình giấu sáng, học vấn uẩn súc mà không thẹn hỏi người dưới, thư pháp nổi tiếng mà riêng tự thành gia, về học nghiệp thì kẻ tầm thường không sao sánh được. Lại với bậc khanh tướng thì thản nhiên, với kẻ nghèo hèn thì ân cần, với người trên thì kính cẩn mà riêng giữ tôn nghiêm, với đồng bối thì vui hòa mà trang nhã có lễ, với người dưới thì ra sức tác thành mà không kể lỗi nhỏ, nên người gần kính yêu mà kẻ xa tìm tới, có thể nói là Thái Sơn Bắc đẩu sau cùng trong Hán học của nước Việt ta. Tới như việc làm con làm anh, làm chồng làm cha thì e rằng nhiều kẻ dựa vào điều mắt thấy tai nghe để ngợi ca vẫn chưa biết tiên sinh là bậc quân tử lấy mình dạy người, há chỉ là kẻ hiếu đễ từ hòa bình thường mà thôi sao!

Dũng thiên tư tối tăm, đội ơn tiên sinh cho theo học đến nay đã ba mươi lăm năm, ngoài trau dồi bút nghiên còn ngưỡng vọng đức nghiệp, cũng vì ngu tối nên được tiên sinh thương xót dạy bảo, nhờ vậy vào đời ba mươi năm may mắn chưa phạm lỗi lớn khiến thầy giận bạn thẹn, tiếc vì tài hèn đức mỏng, chưa làm được điều gì hay để tiên sinh vui lòng, môn hộ vinh diệu, đó là điều Dũng vẫn ân hận vậy. Được tin tiên sinh tạ thế, các vị đồng môn phía Bắc ủy nhiệm thay mặt đi điếu tang, bèn mời đồng học là nữ sĩ Lê Thị Bích Ngân cùng từ Sài Gòn ra Quảng Ngãi đưa linh, chính mắt mục kích tang lễ nên lại được các vị đồng môn sai soạn bi minh, cũng để ghi lại sự kính ngưỡng của tất cả môn đệ với tiên sinh trong muôn một.

Hanh Phủ Nguyễn Đình tiên sinh sinh năm Ất sửu 1925, thọ chung giờ Thân ngày 13 tháng 6 năm Đinh hợi (15h55′ ngày 26. 7. 2007), hưởng thọ 83 tuổi. Minh rằng:

Than ôi thầy ta, Tâm tính từ hòa,
Nghiêm trang độ lượng, Học nghiệp sâu xa.
Sinh gặp thời loạn, Thiếu niên bôn ba.
Liền năm đất khách, Trung niên không nhà.
Thương trò trọng bạn, Người người ngợi ca.
Sư mẫu thất lộc, Vãn niên cô độc,
Nuốt lệ vào lòng, Nuôi con ăn học.
Thân giữa trần hoàn, Lòng ngoài vinh nhục.
Cốt trọn đạo người, Kể gì họa phúc.
Trời cao báo đức, Cuối đời thảnh thơi.
Xa gần ngưỡng vọng, Cửa nhà yên vui.
Tám mươi ba tuổi, Cưỡi hạc xa chơi.
Núi Ấn xế nắng, Sông Vệ về khơi.
Sao đức rơi rụng, Môn sinh ngậm ngùi.
Mộ phần dễ viếng, Ơn thầy khôn nguôi.

Ngày tốt tháng 6 năm Đinh hợi (7. 8. 2007), môn sinh Tự Thanh Cao Văn Dũng vâng lệnh các vị đồng môn kính soạn.

Tháng 8. 2007

奔喪家師迴到沱曩
幸遇陳阮二君有感
死生知是夢
師第幾無情
路遠寒風起
天高白霧生
新墳千里泪
舊帳百年型
有客分哀酒
山莊醉又醒

Phụ
Bôn tang gia sư hồi đáo Đà Nẵng,
hạnh ngộ Trần Nguyễn nhị quân hữu cảm

Tử sinh tri thị mộng,
Sư đệ kỷ vô tình.
Lộ viễn hàn phong khởi,
Thiên cao bạch vụ sinh.
Tân phần thiên lý lệ,
Cựu trướng bách niên hình.
Hữu khách phân ai tửu,
Sơn trang túy hựu tinh (tỉnh)

Đi điếu tang thầy trở về tới Đà Nẵng,
được gặp hai ông Trần Nguyễn cảm xúc

Việc sống chết biết là giấc mộng,
Nhưng thầy trò mấy kẻ vô tình.
Đường xa gió lạnh nổi.
Trời cao mù trắng sinh.
Mộ mới lệ ngàn dặm,
Trướng cũ khuôn mẫu trăm năm.
Có khách san sẻ chén rượu đau thương,
Nơi trang trại trên núi say rồi lại tỉnh.

(*) Bài bi minh này mới viết sau khi thầy tạ thế năm nay, các vị đồng môn ngoài Bắc đã ưng thuận, chỉ là hơi dài nên còn tính toán (định bỏ đi đoạn “Dũng… muôn một” nhưng đồng môn có người phản đối), vả lại cuối năm bận rộn, định đến ngày giỗ đầu thầy năm sau sẽ họp nhau ở Quảng Ngãi cùng dựng bia. Ngoài ra lúc ra Quảng Ngãi điếu tang, bèo nước tương phùng, may mắn được quen Trần Tuấn và Nguyễn Minh Sơn, về tới Đà Nẵng đã hậu tình tiếp đãi trên sơn trang, lại ân cần tiễn đưa tới phi trường. Một lần gặp mặt đã như cố nhân, nghĩ mình mất thầy là điều không may nhưng lại được kết giao với danh sĩ đất Quảng, cũng được an ủi rất nhiều. Vì hành trình gấp rút, lập ý cấu tứ xong về tới Sài Gòn mới viết ra bài thơ này, vốn viết trước bài bi minh của thầy, nhưng cũng phụ thêm vào đây để tạ lòng tri ngộ.

Tháng 11. 2007
(Cao Tự Thanh)

=======

Tại hạ cũng mạo muội lấy chút chữ Hán tự học họa vần Cao tiên sinh:

人 生 都 是 夢
一 字 拜 師 情
子 媳 孫 惟 一
心 遺 德 意 生
門 徒 悲 寄 帳
梓 里 送 幽 形
代 吊 喃 那 會
舉 杯 亦 醉 醒  ?

Nhân sinh đô thị mộng,
Nhất tự bái sư tình.
Tử tức tôn duy nhất,
Tâm di đức ý sinh.
Môn đồ bi ký trướng,
Tử lý tống u hình.
Đại điếu Nôm Na Hội,
Cử bôi diệc túy tinh ?

 

(Visited 51 times, 1 visits today)