Chữ Hán Nôm

VỀ HIỆN TƯỢNG TRÁNH ÂM CHỮ HÚY BẰNG ÂM CỔ

(Bài đã đăng tạp chí Huế Xưa Và Nay)

TÓM TẮT:
Bài viết này nghiên cứu các chữ húy từ khía cạnh ngữ âm lịch sử, đưa ra các cứ liệu cho thấy xu hướng tránh âm đọc của chữ kỵ húy bằng cách sử dụng âm cổ của chính chữ đó.

 

  1. Khái quát vấn đề

Chữ húy là một lĩnh vực đã được nghiên cứu khá kỹ, điển hình là hai công trình “Chữ húy Việt Nam qua các thời đại” của GS Ngô Đức Thọ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm và “Húy kỵ và Quốc húy thời Nguyễn” của nhà nghiên cứu Dương Phước Thu ở Huế (cuốn sau người viết bài này có tham gia chế bản phần chữ Hán). Tuy vậy vẫn còn nhiều vấn đề còn gây tranh cãi trên các diễn đàn học thuật và nhất là trên mạng xã hội. Bài này chỉ giới hạn vào một vấn đề là hiện tượng kỵ húy âm đọc bằng cách sử dụng cổ âm của chính chữ cần tránh húy mà người viết tổng hợp được.

 

  1. Dữ liệu minh họa
  • Tên Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Kính 阮有鏡 : Cách đọc kiêng húy chữ Kính 鏡 thành “Cảnh” hiện đã trở thành tên chính thức, rất ít sách vở còn ghi tên theo cách đọc Kính. Dữ liệu ở Từ điển Việt Bồ La của A.D.Rhodes (1651) cho thấy thời Nguyễn Hữu Kính sinh ra (1650) thì cách đọc Kính đã là cách đọc chính thức:

 

Nhưng căn cứ Khang Hy Tự điển thì cách đọc chính thức lại là “cánh”:
《唐韻》《集韻》《韻會》《正韻》居慶切,音竟   {Đường vận } {Tập vận} {Vận hội } {Chính vận } cư khánh thiết , âm cánh.

 

Như vậy cách đọc tránh húy là “Cảnh” lại gần với âm cổ thời Đường (theo “Đường vận”) hơn “Kính”. Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ (khoảng đời Hán về trước) của 6 nhà ngôn ngữ học nổi tiếng kê ra ở dưới cũng cho thấy Cảnh/Cánh gần với cổ âm hơn là “Kính”, có nguyên âm chính là /a/:

Karlgren: ki ̯a ̆ŋ
Lí Phương Quế: kjiaŋ
Vương Lực: kyaŋ
Baxter: krjaŋs
Trịnh Trương Thượng Phương: kraŋs
Phan Ngộ Vân: kraŋs

 

  • Tên chúa Trịnh Tùng 鄭松, Tùng cũng là một tên khác của chúa Nguyễn Phúc Chu (theo sách Hoàng Triều Ngọc Điệp) nên ở Đàng Trong cũng có tránh húy như Đàng Ngoài, âm kỵ húy là Tòng. Xét dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ:

Karlgren: suŋ
Lí Phương Quế: skuŋh
Vương Lực: soŋ
Baxter: skoŋs
Trịnh Trương Thượng Phương: sqhlooŋs
Phan Ngộ Vân: sqlooŋs

Có 4 trên 6 tác giả phục nguyên âm cổ là /ô/ hay /o/ chứ không phải /u/, đây đều là nguyên âm tròn môi nhưng ô/o có độ mở miệng rộng hơn u, cách đọc Nôm là cây “thông” cũng là một cách đọc cổ, như vậy Tòng là âm cổ hơn âm chính thức phải kiêng húy là “Tùng”.

 

  • Tên chúa Nguyễn Phúc Chu 阮福淍[1]: Kiêng húy Chu đọc ra Châu, ví dụ tên Ngô Tùng Chu, một danh tướng của Nguyễn Ánh thường đọc là Ngô Tòng Châu. Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ của chữ chu 周:

Karlgren: ȶi ̯ʊg
Lí Phương Quế: tjəgw
Vương Lực: tɕiu
Baxter: tjiw
Trịnh Trương Thượng Phương: tjɯw
Phan Ngộ Vân: tjɯw

Dữ liệu này cho thấy cổ âm không phải là có một nguyên âm đơn /u/ mà là nguyên âm phức có -u ở cuối, phù hợp cách đọc “Châu” hơn.

 

  • Tên chúa Nguyễn Phúc Thụ 阮福澍,tránh húy âm thụ đọc ra thọ.

Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ của chữ thụ 澍:

Karlgren: ȶi ̯u
Lí Phương Quế: tjugh
Vương Lực: tɕio
Baxter: tjos
Trịnh Trương Thượng Phương: tjos
Phan Ngộ Vân: tjos

 

Dữ liệu này cho thấy “thọ” là âm cổ hơn “thụ”.

 

  • Tên hiệu của chúa Nguyễn Phúc Khoát là Vũ Vương, do tránh âm Vũ nên đọc thành Võ. Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ của chữ võ/vũ 武:

Karlgren: mi ̯wo
Lí Phương Quế: mjagx
Vương Lực: mia
Baxter: ŋpjaʔ
Trịnh Trương Thượng Phương: maʔ
Phan Ngộ Vân: mbaʔ

Dữ liệu này cho thấy âm Thượng cổ khác xa với âm Trung cổ “vũ” (Đường âm), phục nguyên của Vương Lực /mia/ đọc gần như “mưa” cho thấy người Việt gọi “vũ 雨” là “mưa” chính là cách đọc cổ của “vũ雨”, đồng âm với chữ武. Do nguyên âm /a/ có độ mở miệng rộng hơn /u/ nên các cách đọc cổ ở trên đều gần với “o” hơn là “u”, đặc biệt tác giả Karlgren phục nguyên có “o” ở cuối (mi ̯wo), như vậy “Võ” có thể là một cách đọc cổ.

 

  • Tên vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Dung 阮福曧, do tránh húy nên dung đọc ra dong.

Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ của chữ dung容 (chữ dung này không phải chữ húy nhưng đồng âm nên cũng phải tránh):

Karlgren: di ̯uŋ
Lí Phương Quế: grjuŋ
Vương Lực: ʎioŋ
Baxter: ljoŋ
Trịnh Trương Thượng Phương: loŋ
Phan Ngộ Vân: gloŋ

Có 4/6 tác giả phục nguyên nguyên âm là /o/. Trường hợp dung/dong này cũng giống vũ/võ, thụ/thọ, tùng/tòng … tạo lên một hệ thống biến âm rất có quy luật cho thấy âm tránh húy không phải được chọn lựa một cách tùy tiện.

 

  • Tên vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Thì阮福時, do tránh húy chữ Thì nên đọc ra Thời .

Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ:

Karlgren: ȡi ̯əg
Lí Phương Quế: djəg
Vương Lực: ʑiə
Baxter: djə
Trịnh Trương Thượng Phương: dj
Phan Ngộ Vân: djɯ

Phân tích dữ liệu này thì thấy cổ âm không phải là nguyên âm /i/ có độ mở miệng hẹp mà nguyên âm chính là /ə/ (ơ) có độ mở miệng rộng hơn, gần với cách đọc “giờ” của tiếng Việt (thời giờ, giờ giấc, bây giờ, bao giờ…). Các cách đọc di 移=dời, lị 利=lợi, nghị 議=ngợi, khỉ 起=khởi cũng cho thấy khả năng thời là một cách đọc cổ đã “Nôm hóa” của thì, chứ không phải là một cách đọc đến thời Tự Đức do phải kiêng húy chữ Thì 時 người ta mới “sáng tác” ra.

Từ điển Việt Bồ La A.D.Rhodes trước thời Tự Đức hai thế kỷ đã có mục từ “thây” là xác chết (chữ Hán là thi 尸), cũng cho thấy thời là một cách đọc cổ của thì, phân tích âm thây /thei/ này thì thấy nguyên âm y đã dài và rõ hơn ở thời /thəi/ cho thấy “thời” là âm xưa hơn trên chặng đường chuyển hóa từ nguyên âm thượng cổ /ơ/ qua nguyên âm trung cổ /i/ của chữ “thì 時”.

 

  • Vua Tự Đức còn có tên chính thức trong Hoàng tộc là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, chữ Nhậm 任tránh húy phải đọc ra Nhiệm. Tuy nhiên các dữ liệu phục nguyên âm cổ lại cho thấy cách đọc có giới âm -i- của Nhiệm chính là một cách đọc cổ:

Karlgren: ȵi ̯u ̆m
Lí Phương Quế: njəm
Vương Lực: ȵiuəm
Baxter: njum
Trịnh Trương Thượng Phương: njɯm
Phan Ngộ Vân: njum

(Cả 6 tác giả đều thống nhất là âm Thượng cổ có giới âm -i- hay -j-)

 

  • Chữ Hoa華, tên húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, có cách viết tránh húy là “ba ”葩 hay 芭 (Chợ Đông Hoa và cửa Đông Hoa ở Huế bị đổi thành Đông Ba). Chữ này còn có cách đọc tránh âm là Huê, nhưng đây là chữ quá thông dụng trong đời sống hàng ngày nên ngoài Bắc thời xưa hình như chả kiêng cữ gì âm Hoa cả, chỉ kiêng khi viết ra thôi.

Xét cách đọc Hóa (Thuận Hóa) thành địa danh “Kẻ Huế” đã có ghi chép từ thời tự điển A.D.Rhodes (1651) với ký âm là “hóê” như ở hình dưới, thì âm Huê cũng chỉ là một biến âm cổ của Hoa:

 

Cách đọc /a/ ra /e/ (hơi gần ê) còn thấy ở các trường hợp âm cổ xa=>xe, hạ=>hè, trà=>chè .v.v. đây là cách đọc cổ Hán Việt, thậm chí theo người viết phỏng đoán thì có thể có từ trước thời Bắc Thuộc nữa !

 

  • Chữ Nghĩa 義đọc ra Ngãi (tỉnh Quảng Nghĩa đọc ra Quảng Ngãi). Có thuyết cho rằng do tránh tên hiệu Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Thái mà đọc ra Ngãi. Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ của chữ nghĩa義:

Karlgren: ŋia
Lí Phương Quế: ŋjiarh
Vương Lực: ŋiai
Baxter: ŋrjajs
Trịnh Trương Thượng Phương: ŋrals
Phan Ngộ Vân: ŋals

 

Có 5 trên 6 tác giả phục nguyên âm cuối là r/i/j/l là các âm cuối có thể gieo vần với nhau thời Kinh Thi (theo GS Nguyễn Tài Cẩn), phục nguyên trên cho thấy “ngãi” cũng là một âm đọc cổ chứ không phải đến khi phải kỵ húy mới được tạo ra.

 

  1. Vài ý kiến nhận xét

 

  • Với 10 trường hợp đã nêu đạt hơn 10% so với bảng kê 80 chữ húy triều Nguyễn của tác giả Dương Phước Thu (bảng kê đó có thể tìm ở phụ lục sách tham khảo 2), tuy chưa nhiều nhưng không phải là ít, tạm đủ để kết luận là nhiều trường hợp việc tránh húy về âm đọc đã được thực hiện bằng cách lấy lại âm cổ xưa của chữ cần kiêng húy, đặc biệt là đối với những chữ phải sử dụng nhiều trong đời sống, nếu đọc trại đi quá xa âm của chữ có thể gây những hậu quả trầm trọng trong ngôn ngữ và đời sống.
  • Cách xử lý này rất hài hòa, vừa tránh được âm cần kiêng húy, vừa giữ được ý nghĩa gốc của chữ cần đọc, vừa thể hiện được sự trang nhã “thông kim bác cổ” của người chọn âm … thật là “một công đôi ba việc”.
  • Có thể còn nhiều trường hợp còn lại nêu trong bảng phụ lục kể trên cũng từng là cách đọc cổ ví dụ Đang đọc ra Đương, khi so thực tế “trường” mới là cách đọc phổ thông hơn “tràng”, “sơn” phổ thông hơn “san” thì kỵ húy kiểu đó cũng như không vậy.

 

Tài liệu tham khảo.

  1. “Chữ húy Việt Nam qua các thời đại”, Ngô Đức Thọ, Viện nghiên cứu Hán Nôm. Hà Nội. 1977.
  2. “Húy kỵ và Quốc húy thời Nguyễn”, Dương Phước Thu, NXB Thuận Hóa. Huế. 2002
  3. “ 漢 語 字典”.Vương Lực “Cổ Hán ngữ tự điển”.
  4. “Khang Hy Tự Điển”, bản trực tuyến trên zdic.net
  5. “Hoàng Triều Ngọc Điệp”, bản PDF chữ Hán.
  1. “A Handbook of Old Chinese Phonology”, William H. Baxter, Mouton de Gruyter Berlin – New York 1992.
  2. “Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt”. Nguyễn Tài Cẩn. NXB Đại học Quốc gia , Hà Nội. 2000.
  3. “Từ điển Việt Bồ La”, A.D.Rhodes. Bản dịch của nhóm Thanh Lãng. NXB Khoa học Xã Hội. 1991.
  4. “Nguyễn Phúc Tộc thế phả”. NXB Thuận Hóa. Huế. 1995.

Dữ liệu phục nguyên âm Thượng cổ Hán Ngữ sưu tầm từ trang http://www.eastling.org của Đại học Ngôn ngữ Thượng Hải (trang này đã ngừng cung cấp công khai).

[1] Trong tấm bia ở chùa Thiên Mụ của chính chúa Nguyễn Phúc Chu làm thì chữ Chu viết 週 cũng đã là kiểu viết tránh húy, vì quy ước trong họ chúa Nguyễn thì tên các chúa đều có bộ thủy.

VỀ ĐỊA DANH LANG GIA VÀ CHUYỆN VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN THIÊN ĐÔ TỚI LANG GIA

Trong khi tìm hiểu vấn đề chữ Lang 郎 có nghĩa là “làng”, người viết nhiều lần bắt gặp một địa danh khác là Lang Gia 琅邪, cũng đọc Lang Da, ngày nay thường viết là 琅琊, là một địa danh cổ ở phía Nam tỉnh Sơn Đông Trung Quốc, ở vùng ven biển gần thành phố Thanh Đảo:

https://baike.baidu.com/item/%E7%90%85%E9%82%AA

Điều đáng lưu ý là địa danh này gắn với chuyện vua nước Việt là Câu Tiễn [1] đã (hay có dự định) thiên đô tới đây. Theo sách Việt Tuyệt thư :《越绝书》:“勾践大霸称王,徙琅琊都也。” [Việt Tuyệt thư ] : Câu Tiễn đại bá xưng vương, tỉ Lang Gia đô dã (Câu Tiễn làm bá chủ, xưng vương, dời đô tới Lang Gia)

Điều đáng bình luận là tại sao Câu Tiễn quyết định bỏ vùng đất bản bộ thân thiết là đất Cối Kê [2] nơi từng “nằm gai nếm mật” để vượt sông Trường Giang đến một nơi xa lạ, khá xa về phía bắc của Cối Kê để định đô ? Phải chăng chỉ để thuận tiện cho việc tranh bá đồ vương hay còn lý do nào khác? Lý do khác đó là gì ? Nếu để ý rằng vùng Sơn Đông vốn là đất Đông Di, không phải đất Hán tộc gốc, thì cần nghĩ đến khả năng đó là đất cũ của người Việt chứ chẳng phải nơi xa lạ gì cả, đơn giản là Câu Tiễn chỉ thiên đô về đất cũ mà thôi ! Địa danh Lang Gia này cũng gần với Thành Lang ở nước Lỗ mà người viết đề cập ở bài trước, nhưng chếch về phía bờ biển.

Vết tích phi Hán tộc của tên Lang Gia 琅邪 nằm trong chính chữ viết tên của nó, vì chữ Gia 邪 còn có âm là “Tà” mang nghĩa rất xấu (gian tà, tà ma), khiến người Hán sau này phải đổi ra 琅琊 (giữ âm Lang Gia, nhưng thêm bộ ngọc vào chữ Tà cho đẹp nghĩa). Khả năng đây là chữ ghi âm tiếng nói của một tộc khác, giống như trên thanh kiếm cổ Câu Tiễn lại ghi tên là Cưu Thiển (鳩淺), thiển là nông cạn, hạn hẹp, nghĩa không hay ho gì.

Bây giờ giả định đó là tên được đặt ra bởi nhóm người Bách Việt nói ngôn ngữ Nam Á (mà đại biểu lớn nhất hiện nay là nhóm Việt-Mường) thì việc tìm hiểu ý nghĩa của nó dựa theo tiếng Việt (Kinh) sẽ chẳng có gì là điên rồ hay phản khoa học:

Chữ Lang 琅 theo trang www.vividict.com vốn đồng với các chữ lang 郎, 瑯, 廊 và cả chữ lương 良 nữa, đều chỉ cái hành lang bên cung điện. Mà “Lang 郎” tức là “làng” như người viết đã tìm hiểu và phân tích. Còn chữ Gia 邪 nghĩa là gì ? Trong khi tìm hiểu chữ này người viết để ý đến một chữ “gia 爺” khác vốn nghĩa là “cha, bố”, dạng cổ văn của nó dùng chính chữ “tà 邪” làm bộ phận biểu âm chứ không phải chữ da 耶 như chữ viết hiện đại, như hình sau:

 

Vậy phải chăng Lang Gia 琅邪 là “Làng Cha” tức làng gốc, làng chủ của một quần thể dân cư Việt nào đó ? Mô thức kết cấu tên này khá giống với tên Cổ Loa hay Khả Lũ, kinh đô cổ của nước Âu Lạc mà Giáo sư Trần Trí Dõi giải là “Kẻ Chủ”, kẻ cũng là từ chỉ địa danh như làng.

 

Khả năng chữ Gia 爺 nghĩa là cha vốn không phải là từ gốc của Hán tộc, vì Kinh Thi không có, sách Thuyết Văn cũng không ghi nhận. Chữ này có lẽ chỉ mới xuất hiện trong Hán ngữ sau đời Tần, khi Hán tộc đã chiếm được vùng Nam Trường Giang của nhóm Bách Việt. Có khả năng từ “cha” của người Việt hiện nay và từ “gia 爺” của nhóm Bách Việt vùng Trường Giang vốn ngày xưa cùng một gốc, vì quan hệ giữa phụ âm gi- và ch- là khá gần chẳng hạn chữ Nôm dùng chữ triều “朝” ghi âm “chào”, “chầu”, đồng thời cũng là biểu âm của chữ “giàu”, chữ hán chủng 種 lại có nghĩa Nôm là giồng, trồng v.v.

Tên chim chá cô 鷓鴣 (chim ngói, gà gô, còn có sách giải là chim đa đa), nhiều từ điển ghi cả hai âm đọc chá cô và giá cô, cũng cho thấy cách đọc “gia 爺” thành “cha” ở người Việt là bình thường.

 

GHI CHÚ:
[1] Câu Tiễn, 勾踐 vua nước Việt cổ ở khu vực cửa sông Trường Giang, trị vì 496 TCN465 TCN.

[2] Cối Kê gần thành phố Thiệu Hưng hiện nay, ở phía nam sông Trường Giang, cũng gần thành phố Hàng Châu đối diện phía bắc Trường Giang.

(Bài đã đăng Văn Hóa Nghệ An, nhưng trang đó bị lỗi mất đoạn cuối :
http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/ve-dia-danh-lang-gia-va-chuyen-viet-vuong-cau-tien-thien-do-toi-lang-gia )

Tiếp tục tìm hiểu nghĩa gốc của chữ Hán lang 郞

Xin xem bài gốc ở Văn Hóa Nghệ An:

http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/tiep-tuc-tim-hieu-nghia-goc-cua-chu-han-lang-von-la-lang

và :
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/nghia-goc-cua-chu-han-lang-von-la-lang

Sau khi đăng bài trên người viết đã nhận được nhiều ý kiến phê bình và góp ý trên Facebook của mình. Trong đó có ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Đại Cồ Việt cho rằng “Lang” có lẽ chỉ là địa danh thôi chứ đâu có sách nào nói rõ nó có nghĩa là làng, ấp ? Vì vậy người viết phải tiếp tục tìm kiếm thêm tư liệu xác minh:

Phân tích ý nghĩa câu trong Tả Truyện mà các từ thư như Thuyết Văn Giải Tự, Khang Hy Tự Điển khi chú giải chữ lang 郞 hay nhắc tới:

《左傳·隱元年》費伯帥師城郞. “[Tả truyện. Ẩn nguyên niên] Phí bá suất sư Thành Lang”. (Năm Lỗ Ẩn Công thứ nhất. Bá tước đất Phí cầm quân Thành Lang). Cổ văn súc tích không có giới từ nên người đọc phải tự suy đoán “đến Thành Lang” hay “từ Thành Lang” hay “ở Thành Lang”…

Sách Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận giải thích lang là “Lỗ đình” (Đình nước Lỗ), trong phần chú giải sách Thuyết văn của người đời sau còn chú thêm : 鄭曰。郎、魯近邑也。杜云。郎、魯邑. Trịnh viết: lang, lỗ cận ấp dã. Đỗ vân: lang, lỗ ấp ( Trịnh Huyền chú là ấp gần trung tâm nước Lỗ, Đỗ Dự cũng chú là ấp nước Lỗ) [1].

Khang Hy Tự Điển thì chỉ dẫn lại y nguyên sách Thuyết Văn.

Như vậy các từ thư cổ không có sách nào nói rõ ra “lang” có nghĩa là làng hay ấp cả, đúng như ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Đại Cồ Việt, nhưng cũng không có từ thư nào nói rõ nó là địa danh cả, ví dụ Khang Hy Tự Điển vốn là sách chú giải rất cẩn thận các tính danh, địa danh, sơn danh, thủy danh … nhưng lại không thấy chú rõ “Thành Lang” là địa danh, trong khi ngay đoạn sau khi nhắc đến tên nước “Dạ Lang” thì lại chú rõ là địa danh ở quận Tang Ca.

Ý kiến nói “Lang” là địa danh là cách giải thích của người hiện đại ở trang mạng nào đó của Trung Quốc (người viết quên ghi lại địa chỉ).
Do nghĩa gốc của Lang là “làng”, “ấp” không còn trong Hán ngữ hiện đại nên người viết quyết định “gúc” địa danh “Thành ấp 城邑” thay vì “Thành Lang 城郎”, và tìm thấy trên BaiDu giải thích sau:
https://baike.baidu.com/item/%E6%AD%A6%E5%9F%8E%E9%82%91
武城邑为春秋时期鲁国城邑,治所在今山东平邑县魏庄乡武城村。
Võ Thành ấp vi Xuân Thu thì kì Lỗ Quốc Thành ấp, trị sở tại kim Sơn Đông Bình Ấp huyện Ngụy Trang hương Võ Thành thôn…. 公元前554年(鲁襄公十九年)筑城 công nguyên tiền 554 niên (Lỗ Tương Công thập cửu niên ) trúc thành. (Ấp Võ Thành tức là ấp Thành ở nước Lỗ thời Xuân Thu, trị sở nay là thôn Võ Thành, xã Ngụy Trang, huyện Bình Ấp, tỉnh Sơn Đông. Năm Lỗ Tương Công thứ 19 (554 TCN) xây thành.) [2]

Đối chiếu thì “Thành Lang” có lẽ chính là “Thành ấp”.

Trong trang trên có một thông tin đặc biệt thú vị xin lưu ý với người đọc, đó là câu trích sách Mạnh tử: 《孟子》:“曾子居武城,有越寇。” “Tăng Tử cư Vũ Thành, hữu Việt khấu” (Tăng Tử ngụ ở Vũ Thành, có bọn giặc Việt)[3].

Như vậy vùng đất Vũ Thành này gần với đất của người Việt, người viết đề nghị xem xét tới khả năng “Thành Lang” vốn là “làng Thành” của người Việt, sau Hán tộc đến xâm lấn và cai trị, dân cư gốc còn sót lại ở vùng đó bị gọi là bọn “giặc Việt”. Chú ý “Việt” đây là người viết muốn nói Bách Việt nói chung chứ không phải chỉ riêng nước Việt của Câu Tiễn, tức là chỉ nhóm dân cư cổ ở vùng Trường Giang nói ngôn ngữ Nam Á hay Thái Kadai.

Nếu đúng Thành Lang là Thành Ấp thì chữ “lang” khớp với nghĩa “ấp”. Ngoài ra theo sách Tả Truyện thì đời Lỗ Ẩn Công (trị vì 722 TCN-712 TCN) thì tên “Thành Lang” vẫn còn, nhưng sau vài thế kỷ đến sách Mạnh Tử (372–289) thì đã trở thành tên thuần Hán là “Võ Thành”.

Dầu sao thì thì gần 3 nghìn năm nay cái tên “Thành” (của “làng Thành”, có thể của người Việt cổ ?), vẫn còn đó, chỉ bị người Hán gia thêm chữ “Vũ” để thành tên đậm chất Hán “Vũ Thành”.

Cuối cùng, người viết xin bàn rộng ra vì sao các chữ đình (chỉ cái đình) và chữ lang (vốn gốc chỉ cái hành lang) lại dẫn đến nghĩa “làng”?
Tự điển Thiều Chửu chú chữ đình 亭 như sau:
Đình
(1): Cái đình. Bên đường làm nhà cho khách qua lại trọ gọi là quá nhai đình 
過街亭 . Trong vườn công, xây nhà cho người đến chơi nghỉ ngơi, ngắm nghía gọi là lương đình 涼亭 .
(2): phép nhà Hán chia đất cứ 10 dặm là 1 đình, 10 đình là 1 làng, nên người coi việc làng gọi là đình trưởng 
亭長 tức như lý trưởng bây giờ.
(3): dong dỏng. Như đình đình ngọc lập 
亭亭玉立 -dong dỏng cao như ngọc đẹp, tả cái dáng người đẹp.
(4): đến, như đến trưa gọi là đình ngọ 
亭午

 Còn sách Thuyết văn chú chữ đình 亭 là 民所安定也。亭有樓,从高省,丁聲。 Dân sở an định dã, đình hữu lâu. Tòng cao tỉnh, đinh thanh (Là chỗ dân an cư, có cái lầu. Phần chỉ nghĩa là chữ cao viết tỉnh lược, phần chỉ âm là chữ đinh)

Như vậy sách Thuyết văn coi trọng nghĩa phái sinh (nơi tụ họp dân cư) hơn là nghĩa gốc (cái nhà bên đường để nghỉ chân). Từ nghĩa phái sinh này mà có nghĩa “đình là làng”, có thể do nơi dựng đình thường là chỗ giao thông thuận lợi và mát mẻ gần nguồn nước (cây đa-bến nước-sân đình), mà đó cũng là tiêu chí để dân cư tụ họp dựng làng lập xóm nên thành ra cuối cùng thì “đình” sẽ thành “làng”.

Từ lập luận đó sẽ thấy là “lang 廊” (cái hành lang, theo Khang Hy tự điển thì thông với chữ lang 郎 chúng ta đang bàn) cũng có thể dẫn đến nghĩa làng, mà chữ Nôm thường viết là 廊.
Thật vậy, chỉ cần quan sát hình ảnh cầu ngói Thanh Toàn ở Huế hay Cầu chùa (Lai Viễn Kiều) ở Hội An là đủ hiểu: Trên cầu có mái che cho khách bộ hành nghỉ chân, chức năng cũng như cái đình, nhưng do kết cấu thông cả hai đầu nên thực chất nó là một cái “lang 廊 ” (hành lang).
Hình ảnh cầu ngói Thanh Toàn (Huế):

So sánh với hình ảnh cái đình tiêu biểu (làng Đình Bảng) :

Cây đa, giếng nước, sân đình là hình ảnh quen thuộc đã đi vào thi ca dân gian:

“Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen… “


GHI CHÚ:

[1] Trịnh Huyền (127-200) là học giả đời Hán. Đỗ Dự (222-285) là học giả đồng thời cũng là danh tướng nhà Tấn, đã tham gia diệt nước Ngô, kết thúc thời kỳ Tam Quốc.

[2] Sử dụng bản đồ Google có thể dễ dàng tìm thấy Ngụy Trang hương 魏庄乡 ở phía đông nam thành phố Khúc Phụ, kinh đô cũ của nước Lỗ, cách khoảng 60-70 km đường chim bay tức là khá gần kinh đô nước Lỗ, khớp với câu chú “Ấp gần Lỗ” của Trịnh Huyền.

[3] Võ Thành Ấp chính là quê hương của Tăng Tử, học trò xuất sắc của Khổng Tử.