admin

Trích thơ

Sưu tầm được một số thơ hay ở FB của bác Le Quocviet, mạn phép chép ra đây:

九真郡人黎國越詩

迴鄉感舊 (09-03-2011) 春京艷境遍詩題,忽遇桑滄斷竹絲,歬朝風韻人何在,只見空城亂燕飛。(時貳拾肆於阮福海忠故宅)

無題 (06-03-2011) 雲湧千山色斷,遥看長戀舊遊,自我江湖弎十,而今幾度嗟吁。(時弎拾陸於雲頂馬來西亞)

故窟缺題 (09-03-2011)自我漂蓬號九真,叁年長作客江濱,酒闌便了愁滋味,朋友佺無作鬼隣 。(時弎拾伍)

聽紅紅雪雪調有感 (02-04-2011) 我浪遊還我昔遊,可人誤唱客吟秋
香魂玉骨今盡變,不似當時士大夫。(時年四十)

明誠黎進達詩

後漏夜雨 (15.10.2009)殘荷人聼雨。客舍今孤旅聼芭蕉。灑江天,暮雨蕭條。微涼入舉杯人自酌。忽記當年同客約。惟憐此夜一身寒。誰為愚,誰為智,誰為碌,誰為閑。獨秋雨到窗前對語。滴滴飛檐,如咨如嗟,如怨如愁,如泣如訴。如解客心而客又何言。徘徊濁酒一樽。

題拜梅書後 (26.02.2010)聞道梅君法二王,哪知書理更難量。墨風瀟灑星垂野,筆勢縱橫月湧江。字裏虯龍雲出沒,行間濤浪岸掀揚。如今看此心才悟,予硯從來怨滿腸。

續溫姬句兼呈拜梅子(14.05.2010)凄風冷雨滿江城,獨倚紗窗酒未醒。每念寸牋期菊節,常懷尺紙望鴻聲。無由萬里留仙手,有幸千年會帝京。軒外夜闌聞落葉,枝頭喜鵲為誰鳴。

至善陳飛英詩

菩薩蠻–殘秋 (2008)終夜遠聞秋報盡,方方寒氣草頭滿,相見必相憐,何處白頭人,銀光舞一劍,不知鍾聲點,落霜冷布衣,笑認節冬歸。

江城送別 (11. 5.2010)凄風冷雨滿江城,終夜分杯入帝京。回首千山誰望得,孤亭唯雨動簾聲。
和安邊海棠詩 (06.05.2011)國家臨末路,處處鎖其門,魚鳥於籠缶,儀唐在碗樽,豺狼盈舖市,妓女盡鄉村,欲見風雲倒,山河又再春。

無公范文映詩

寄南龍無題詩三首 (2004) 其一:飲酒夜長傾數盃,殘更不寐獨徘徊。悲歡得失還相續,昔日心投恐似灰。其二:飲酒滿長更,欲醉又不成。孤影能獨對,橫空雁一聲。其三:孤雁何方響一聲,知乎旅客在龍城。此夜消騷心不在,殘燈獨對待天明。

無題 靜夜孤房望漢江,四邊星宿見茫茫。聽說何年於七夕,織女臨橋未點妝。

十六字令 雞。半夜鳴兮殘夢迷。君何處?烈雨正淒淒。

習古無題詩一首 (15.11.2006) 靜夜芳心不自持,桃花含笑柳如眉,無端日落西樓下,人生自視有情痴。

與南龍共為詩一首 (2006) 塞北登峰思故人,一邊楚國一邊秦,高亭極目雲江碧,曲檻誰凴柳更新。

南龍阮光維詩

四月二十八日,念代谢沉浮之事怅然赋三韵 (28-04-2011) 高臺烟鎖雨如絲,異客悠悠欲語時。回首風雲三十載,無端輕唱杜陵詩。

滿江紅- 故國神遊五月二日,暮乘舟從會安鎮到大佔海口 (10-05-2011) 圓笠輕舟,大佔口,凌凌日暮。觀六合,碧天藍島,白沙綠樹。鷗鷺橫空鳴晚照,浪濤奔肆生疏霧。對蒼茫,鼓枻想當年,張昇甫。南北岸,然如故。飛潛類,誰來主?數英雄,幾個名流千古?李帝班師無覓處,黎皇弔伐空餘語。客回頭,皓月與漁歌,歸遠浦。

临池有感 (20/5/2011) 身投笔阵十余年,乃识其中玄又玄。漏痕至今零碎语,折钗自古许多编。王风久矣无来梦,魔障巍哉尽入缠。却念不争求独善,杜门拂拭旧花笺。

隨白鷗
夜半出城 (21-05-2010)一欲乘風萬里行,赤駒鞍備出三更,月光雲傘來相引,所去山泉莫問名。

山水(12-2-2013)山明水秀豈憑名,天地文章固自成,可惜庸夫求怪字,為盈耳目忽真情。
晚遊漫興 (19 – 11 – 2012) 岸亭夕挂一銀鈎,漁網桿樁設渡頭,未散遺霞紅水鏡,忘機落鶩白沙丘,徐風一到搖枯草,細浪迂回動小舟,漁老深眠那識事,漣漪如在稍還休
(29 – 9 – 2012)白鷗非白亦非鷗,豈在言中作話頭,只是隨風游別外,水泡遺影瞬間留
(6 – 9 – 2012)挑撥三聲祛冗雜,吟猱數韻暢幽情,豈吾拙手嘗能操,只是斯琴性本清
(5 – 9 – 2012)暮臨舊苑探餘蕤 幾度風行破菊籬 月落湖間為燭競 花殘地上見人悲夫由影幻燈何罪 也是花輕客莫奇 自覺從今無別事 只應回首向蓮池

—-
Cửu Chân quận nhân Lê Quốc Việt thi

Hồi hương cảm cựu (09-03-2011)
Xuân kinh diễm cảnh biến thi đề, hốt ngộ tang thương đoạn trúc ti, tiền triều phong vận nhân hà tại, chỉ kiến không thành loạn yến phi. (thì nhị thập tứ ư Nguyễn Phúc Hải Trung cố trạch )

Vô đề (06-03-2011)
Vân dũng thiên sơn sắc đoạn, dao khan trường luyến cựu du, tự ngã giang hồ tam thập, nhi kim kỉ độ ta hu. (thì tam thập lục ư vân đỉnh Mã lai tây á )

Cố quật khuyết đề (09-03-2011)
Tự ngã phiêu bồng hiệu Cửu chân, tam niên trường tác khách giang tân, tửu lan tiện liễu sầu tư vị, bằng hữu thuyên vô tác quỷ lân. (thì tam thập ngũ )

Thính hồng hồng tuyết tuyết điệu hữu cảm (02-04-2011)
Ngã lãng du hoàn ngã tích du, khả nhân ngộ xướng khách ngâm thu
Hương hồn ngọc cốt kim tận biến, bất tự đương thì sĩ đại phu. (thì niên tứ thập )

Minh Thành Lê Tiến Đạt thi

Hậu lậu dạ vũ (15. 10. 2009)
Tàn hà nhân thính vũ. Khách xá kim cô lữ thính ba tiêu. Sái giang thiên, mộ vũ tiêu điều. Vi lương nhập cử bôi nhân tự chước. Hốt kí đương niên đồng khách ước. Duy liên thử dạ nhất thân hàn. Thuỳ vi ngu, thuỳ vi trí, thuỳ vi lộc, thuỳ vi nhàn. Độc thu vũ đáo song tiền đối ngữ. Thích thích phi thiềm, như tư như ta, như oán như sầu, như khấp như tố. Như giải khách tâm nhi khách hựu hà ngôn. Bồi hồi trọc tửu nhất tôn .

Đề Bái Mai thư hậu (26. 02. 2010)
Văn đạo Mai quân pháp nhị vương, na tri thư lí cánh nan lường. Mặc phong tiêu sái tinh thuỳ dã, bút thế tung hoành nguyệt dũng giang. Tự lí cầu long vân xuất một, hành gian đào lãng ngạn hiên dương. Như kim khan thử tâm tài ngộ, dư nghiễn tòng lai oán mãn tràng .

Tục Ôn Cơ cú kiêm trình Bái Mai tử (14. 05. 2010)
Thê phong lãnh vũ mãn giang thành, độc ỷ sa song tửu vị tinh. Mỗi niệm thốn tiên kì cúc tiết, thường hoài xích chỉ vọng hồng thinh (thanh). Vô do vạn lí lưu tiên thủ, hữu hạnh thiên niên hội đế kinh. Hiên ngoại dạ lan văn lạc diệp, chi đầu hỉ thước vị thuỳ minh .

Chí Thiện Trần Phi Anh thi

Bồ tát man – Tàn thu (2008)
Chung dạ viễn văn thu báo tận, phương phương hàn khí thảo đầu mãn, tương kiến tất tương liên, hà xứ bạch đầu nhân, ngân quang vũ nhất kiếm, bất tri chung thanh điểm, lạc sương lãnh bố y, tiếu nhận tiết đông quy .

Giang thành tống biệt (11. 5. 2010)
Thê phong lãnh vũ mãn giang thành, chung dạ phân bôi nhập đế kinh. Hồi thủ thiên sơn thuỳ vọng đắc, cô đình duy vũ động liêm thanh .

Họa An Biên Hải Đường thi (06. 05. 2011)
Quốc gia lâm mạt lộ, xứ xứ toả kì môn, ngư điểu ư lung phẫu, nghi đường tại uyển tôn, sài lang doanh phố thị, kĩ nữ tận hương thôn, dục kiến phong vân đảo, sơn hà hựu tái xuân .

Vô Công Phạm Văn Ánh thi

Kí Nam Long vô đề thi tam thủ (2004)
kì nhất :
Ẩm tửu dạ trường khuynh sổ bôi, tàn canh bất mị độc bồi hồi. Bi hoan đắc thất hoàn tương tục, tích nhật tâm đầu khủng tự hôi.
Kì nhị :
Ẩm tửu mãn trường canh, dục tuý hựu bất thành. Cô ảnh năng độc đối, hoành không nhạn nhất thanh.
Kì tam :
Cô nhạn hà phương hưởng nhất thanh, tri hồ lữ khách tại long thành. Thử dạ tiêu tao tâm bất tại, tàn đăng độc đối đãi thiên minh .

Vô đề
Tĩnh dạ cô phòng vọng hán giang, tứ biên tinh túc kiến mang mang. Thính thuyết hà niên ư thất tịch, Chức nữ lâm kiều vị điểm trang .

Thập lục tự lệnh kê. Bán dạ minh hề tàn mộng mê. Quân hà xứ ? liệt vũ chính thê thê .

Tập cổ vô đề thi nhất thủ (15. 11. 2006)
Tĩnh dạ phương tâm bất tự trì, đào hoa hàm tiếu liễu như mi, vô đoan nhật lạc tây lâu hạ, nhân sinh tự thị hữu tình si .
Dữ Nam Long cộng vi thi nhất thủ (2006)
Tái bắc đăng phong tư cố nhân, nhất biên Sở quốc nhất biên Tần, cao đình cực mục vân giang bích, khúc hạm thuỳ bằng liễu cánh tân .

Nam Long Nguyễn Quang Duy thi

Tứ nguyệt nhị thập bát nhật, niệm đại tạ trầm phù chi sự trướng nhiên phú tam vận (28-04-2011)
Cao đài yên toả vũ như ti, dị khách du du dục ngữ thì. Hồi thủ phong vân tam thập tải, vô đoan khinh xướng Đỗ Lăng thi .

Mãn giang hồng – cố quốc thần du ngũ nguyệt nhị nhật, mộ thừa chu tòng Hội An trấn đáo Đại chiêm hải khẩu (10-05-2011)
Viên lạp khinh chu, Đại chiêm khẩu, lăng lăng nhật mộ. Quán lục hợp, bích thiên lam đảo, bạch sa lục thụ. Âu lộ hoành không minh vãn chiếu, lãng đào bôn tứ sinh sơ vụ. Đối thương mang, cổ duệ tưởng đương niên, Trương Thăng phủ. Nam bắc ngạn, nhiên như cố. Phi tiềm loại, thuỳ lai chủ ? sổ anh hùng, kỉ cá danh lưu thiên cổ ? Lí đế ban sư vô mịch xứ, Lê hoàng điếu phạt không dư ngữ. Khách hồi đầu, hạo nguyệt dữ ngư ca, quy viễn phố .

Lâm trì hữu cảm (20/5/2011)
Thân đầu bút trận thập dư niên, nãi thức kì trung huyền hựu huyền. Lậu ngân chí kim linh toái ngữ, chiết sai tự cổ hứa đa biên. Vương phong cửu hĩ vô lai mộng, ma chướng ngôi tai tận nhập triền. Khước niệm bất tranh cầu độc thiện, đỗ môn phất thức cựu hoa tiên .

Tuỳ bạch âu
Dạ bán xuất thành (21-05-2010)
Nhất dục thừa phong vạn lí hành, xích câu an bị xuất tam canh, nguyệt quang vân tản lai tương dẫn, sở khứ sơn tuyền mạc vấn danh .

Sơn thuỷ (12-2-2013)
Sơn minh thuỷ tú khởi bằng danh, thiên địa văn chương cố tự thành, khả tích dung phu cầu quái tự, vi doanh nhĩ mục hốt chân tình .

Vãn du mạn hứng (19 – 11 – 2012)
Ngạn đình tịch quải nhất ngân câu, ngư võng cản trang thiết độ đầu, vị tản di hà hồng thuỷ kính, vong cơ lạc vụ bạch sa khâu, từ phong nhất đáo dao khô thảo, tế lãng vu hồi động tiểu chu, ngư lão thâm miên na thức sự, liên y như tại sảo hoàn hưu

(29 – 9 – 2012)
Bạch âu phi bạch diệc phi âu, khởi tại ngôn trung tác thoại đầu, chỉ thị tuỳ phong du biệt ngoại, thuỷ bào di ảnh thuấn gian lưu

(6 – 9 – 2012)
Thiêu bát tam thanh khư nhũng tạp, ngâm nao sổ vận sướng u tình, khởi ngô chuyết thủ thường năng tháo, chỉ thị tư cầm tính bản thanh

(5 – 9 – 2012)
Mộ lâm cựu uyển thám dư nhuy, kỉ độ phong hành phá cúc li, nguyệt lạc hồ gian vi chúc cạnh, hoa tàn địa thượng kiến nhân bi, phu do ảnh ảo đăng hà tội, dã thị hoa khinh khách mạc ki, tự giác tòng kim vô biệt sự, chỉ ưng hồi thủ hướng liên trì.

—-

Nhân bác Le Quocviet có nhã ý mời nên tui xin được nối điêu vài bài:

登婆那山

深林連石壑
瀑布挂山前
兀立棧車線
徘徊無底天
雲飛新雨後
目覩映陽纏
獨步踏峰頂
清心向問禪

坐舟入香跡峒
河西勝地幾曾聞
香跡名山景秀清
綠水樂船揮蕩槳
秋風吹面興詩成
荷花沿岸紅千點
梅嶺江邊立兩城
如今幸得平生願
對友將詩和此情

慈雲寺往記

昔日慈雲過草庵
與僧二位得書談
庭前筆畫梅枝一
院左茶專竹友三
拙手不堪書畫對
疏才未敢賦詩參
浮生閑事曾聞說
日暮同僧道院談


臨江仙
一帶香江藏古劍
賦詩寄訪陶公
贏輸世路白頭翁
丹心松氣節
秋思雁來紅
意味詞懷辛棄疾
塞聲破陣豪雄
詞成喜笑世應空
欲觀倉海事
門閉古城東

18/12/2015

望關山

橫山一帶
斷雁雲關入海
舊跡玄珍思容在
離國一天關塞

船停曲轉南傖
詞懷詩思倉山
虹橋舉步南郊望
迴頭潘鬢如霜

22/10/2017

Bàn về phiên âm Hán Việt: GIA-CÁT Lượng hay CHƯ-CÁT Lượng

Tên nhân vật lỗi lạc thời Tam Quốc là Gia Cát Lượng, viết chữ Hán là 諸葛亮, bính âm là Zhūgé Liàng, nếu theo đúng các từ thư Trung Quốc thì phải đọc là Chư-Cát Lượng, nhưng người Việt chúng ta chỉ quen đọc là Gia-Cát Lượng.

Tại sao vậy ? Chắc không phải do các nhà nho Việt đọc lầm chữ “chư 諸”, vì chữ này ở trong các từ khác như “chư hầu”, “chư nho”, “bách gia chư tử” thì người Việt vẫn đọc đúng âm chư, chỉ riêng trong tên họ kép 諸葛 thì lại thống nhất đọc là Gia-Cát … Phải có lý do rất mạnh nào đó mới khiến người Việt bất chấp tầng tầng lớp lớp sách vở, từ thư, vận thư Trung Quốc mà cứ đọc là “Gia-Cát” ?

Để tìm hiểu vấn đề này cần đi xa hơn thời đại của các vận thư Trung Quốc như các sách Đường Vận, Tập Vận, Quảng Vận, Chính Vận … vì hầu hết các sách đó mới được soạn từ cuối đời Đường về sau, ứng với giai đoạn mà các nhà ngôn ngữ học gọi là Trung cổ Hán ngữ. Trong khi đó Gia Cát Lượng lại là nhân vật đời Hán, mà khoảng từ đời Hán về trước được các nhà ngôn ngữ xếp vào giai đoạn Thượng cổ Hán ngữ.

Phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ của chữ chư 諸 theo các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng sau:

Karlgren: ȶi ̯ɔ
Lí Phương Quế: tjiag
Vương Lực: tɕya
Baxter: tjᴀ
Trịnh Trương Thượng Phương: tjaa
Phan Ngộ Vân: klja

(Dữ liệu tham khảo từ trang http://www.eastling.org/)

Phân tích dữ liệu ở trên thấy;
Có 5/6 nhà ngôn ngữ phục nguyên phần nguyên âm có âm cuối là -A
Có 4/6 nhà ngôn ngữ phục nguyên có âm giữa -J- ứng với GI của tiếng Việt

Như vậy cách đọc GIA mới gần với âm thời Hán hơn là CHƯ, việc người Việt đọc GIA đơn giản là theo người xưa truyền lại, cả ông cha mình, cả thầy dạy mình đều đọc như thế … chứ không phải ngu dốt nhầm lẫn, cũng chả phải “bài Hoa chống Tàu” gì cả.

Có thể kể thêm các trường hợp nhân danh, địa danh khác người Việt quen đọc theo âm cổ như tên thành Phiên Ngung 蕃隅 (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Đông) quen đọc là Phiên Ngung mà không phải Phiên Ngu, tên nhân vật Bồ Kiên 苻堅 trong Bạch Đằng Giang phú của Trương Hán Siêu các sách của ta quen phiên âm là Bồ Kiên mà không phiên là Phù Kiên (lưu ý phụ âm Ph- Hán ngữ thời thượng cổ vốn là B-) .v.v.

Khảo sát thêm một trường hợp nữa: Long nhương tướng quân là chức tước có từ thời Hán, có sách nói là của Quan Hưng, nhưng người viết tra Tam quốc chí diễn nghĩa bản dịch của hai cụ Phan Kế Bính và Bùi Kỷ chỉ thấy nhắc đến Long nhương tướng quân Vương Tuấn, đại tướng của nhà Ngụy-Tấn đã đánh dẹp được Đông Ngô[1]. Thực ra hai chữ Long Nhương thì người viết nhớ được cũng nhờ đọc bộ Tam Quốc chí diễn nghĩa nhưng ở đoạn khác, nguyên do hồi nhỏ nhân lúc phải nằm bệnh viện người viết có đọc ké hai bộ sách Tam Quốc chí diễn nghĩa và Đông Chu liệt quốc của một bác nằm giường bên, đến giờ vẫn còn nhớ một đoạn phiên âm bài thơ Gia Cát Lượng làm để chọc tức Tào Chân, các bản dịch Tam quốc chí diễn nghĩa tái bản sau năm 1975 hình như không in phần phiên âm của bài thơ đó nữa, nhưng người viết đảm bảo nhớ đúng chữ “nhương”:

Trọng Đạt văn phong nhi thích thích,
Tử Đan [2] vọng trận nhi hoàng hoàng
Ngô quân binh cường nhi mã tráng,
Đại tướng hổ phấn dĩ long nhương.[3]

Dầu sao thì chỉ với từ “Long nhương tướng quân Vương Tuấn” gặp trong bản dịch của hai bậc cự nho Phan Kế Bính và Bùi Kỷ thì cũng đủ để không cần bàn chuyện phiên âm “nhương” đúng hay sai nữa mà chỉ nên tìm hiểu âm “nhương” ở đâu ra. Nhưng khi người viết tra chữ nhương/tương 驤(Bính âm “xiang”) trong từ”long nhương” thìthấy các từ thư Trung Quốc đều thiết âm là “tương”, ví dụ theo  Khang Hy Tự điển :
《唐韻》《正韻》息良切《集韻》《韻會》思將切,竝音襄 ,[Đường vận, Chính vận] tức lương thiết [Tập vận, Vận hội] tứ tương thiết, tịnh âm tương.

Trong sách Trung Nguyên Âm Vận của Chu Đức Thanh (1324 đời Nguyên) thậm chí còn nhìn thấy rõ ràng nó xếp trong nhóm 6 từ đồng âm tương 湘廂相箱襄驤 như hình sau:

Chỉ đến khi tra đến âm thượng cổ Hán ngữ mới thấy vết tích của âm đọc “nhương”, dưới đây là phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ theo 6 nhà ngôn ngữ học :

Karlgren: si ̯aŋ
Lí Phương Quế: sjaŋ
Vương Lực: siaŋ
Baxter: snjaŋ
Trịnh Trương Thượng Phương: snaŋ
Phan Ngộ Vân: snaŋ

Trong đó phục nguyên của Baxter là snjaŋ là có vẻ gần với “nhương” nhất.

Ngoài ra âm nhương còn lưu tích ở các từ chữ Hán 攘, 禳, 瀼, 蘘, 穰,瓤,勷,忀  Bính âm là “rang2″ ứng với cách đọc Hán Việt “nhương”, nhưng tất cả các chữ này đều có bộ phận biểu âm là chữ tương 襄, phải có lý do gì người Hán thời xưa mới cấu tạo chữ như thế chứ ?

Trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) của J.Barrow viết bằng tiếng Anh, khi nhắc đến chức tước của Nguyễn Huệ do vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) phong là “Long Nhương Tướng Quân” thì Barrow ghi âm theo dạng chữ La tinh là “Long-niang” và người dịch thì dịch và chú là Long Nhương. Đây là vết tích cổ xưa nhất và có căn cứ ngữ âm vững nhất của cách đọc “nhương”, vì chữ La tinh vốn là kiểu chữ viết ghi âm khá chuẩn xác, lưu ý thêm nơi Barrow đến là Đà Nẵng phần nào chứng tỏ cách đọc “nhương” của người Việt là thống nhất từ Bắc vào Nam, và cả trong tầng lớp quan lại nhà nước chứ không phải là cách đọc riêng của vài thầy đồ nhà quê do thiếu tài liệu sách vở.

Hình cắt từ trang có chữ Long-niang trong cuốn sách của Barrow:

Bản dịch của Nguyễn Thừa Hỷ, Nhà xuất bản Thế Giới , 2003:

 

Vài ý kiến sơ kết:

Nhiều nhà ngôn ngữ học như Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đều cho rằng hệ thống âm Hán Việt của người Việt có nguồn gốc từ ngữ âm tiếng Hán giai đoạn cuối đời Đường và giữ khá ổn định hơn nghìn năm nay, nhưng từ các ví dụ trên người viết ngờ là hệ thống âm Hán Việt có thể định hình sớm hơn nữa, có thể là giữa đời Đường (thời thịnh trị của nhà Đường) ? Và phần nhiều những cách đọc của người Việt bị chê bai là “phi chuẩn”, “phản từ thư” khi tìm hiểu kỹ hóa ra lại có căn cứ ở ngữ âm tiếng Hán thượng cổ.

 


[1] Về sự kiện Vương Tuấn đánh chiếm kinh đô Kim Lăng của Đông Ngô, có bài Đường thi “Tây Tái sơn hoài cổ” của Lưu Vũ Tích:

Vương Tuấn lâu thuyền há Ích châu

Kim Lăng vương khí ảm nhiên thâu.

Thiên tầm thiết tỏa trầm giang để

Nhất phiến hàng phan xuất Thạch Đầu .

Nhân thế kỷ hồi thương vãn sự

Sơn hình y cựu chẩm hàn lưu .

Tòng kim tứ hải vi gia nhật

Cố lũy tiêu tiêu lô dịch thu.

 

[2]

Trọng Đạt là tên chữ của Tư Mã Ý

Tử Đan là tên chữ của Tào Chân.

[3] Tra lại đoạn thơ của Gia Cát Khổng Minh trên mạng thì thấy có đảo hai chữ phong 風 và trận 陣, nhưng chữ nhương/tương 驤 đang thảo luận thì không hề xê dịch:

仲達聞陣而惕惕,子丹望風而遑遑!

吾軍兵強而馬壯,大將虎奮以龍驤

“Trọng Đạt văn trận nhi thích thích (hay dịch dịch), Tử Đan vọng phong nhi hoàng hoàng! Ngô quân binh cường nhi mã tráng, Đại tướng hổ phấn dĩ long nhương.”

Khả năng chữ ĐẢ 打 HÁN có nguồn gốc Nam Á

1.      Đặt vấn đề:

Trong bài viết tham gia hội thảo nhân một năm ngày mất của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (2012) người viết từng đặt vấn đề về việc có nhiều từ Hán ngữ có thể có nguồn gốc Nam Á, dựa trên sự so sánh đối lập một số cặp từ gốc Hán-Tạng vùng Hoàng Hà và gốc Bách Việt vùng Trường giang như Hà/Giang (河/江), Thổ/Địa (土/地),  Túc/Chỉ (足/趾),  Xã/Lý (社/里), Nội/Trung (內/中)… ở đây xin tiếp tục đưa ra một trường hợp khác là cặp từ Kích/Đả (擊/打).

 

2.      Khảo sát cặp từ Kích/Đả (/打)

Chữ đả 打 có phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ (OC) theo các nhà ngôn ngữ học như sau:

Karlgren: te ̆ŋ
Lí Phương Quế: triŋx
Vương Lực: teŋ
Baxter: treŋʔ
Trịnh Trương Thượng Phương: rteŋʔ
Phan Ngộ Vân: rteeŋʔ

Về âm Trung cổ Hán ngữ của chữ đả thì có thể căn cứ ở Khang Hy Tự điển, chú như sau: 《唐韻》《集韻》《韻會》都挺切,音頂。{Đường vận} {Tập vận} {Vận hội} đô đĩnh thiết , âm đỉnh. Tức là âm cuối -ng (-ŋ) vẫn còn tồn tại đến thời Trung cổ.

Nếu không tính thanh điệu thì phục nguyên âm thượng cổ của các tác giả Vương Lực và Karlgren trùng với từ “tảnh” cũng là “đánh” trong tiếng Mường, chính bộ phận biểu âm của chữ đả 打 là chữ đinh/đanh 丁cũng cho thấy rõ dạng âm cổ gần với tiếng Việt.

Từ “đánh” ở tiếng Bru-Vân Kiều là tơânh, ở tiếng Katu là đhưng … các ngôn ngữ này đều thuộc nhóm Môn-Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á. Sự chuyển hóa: đhưng (Cơ tu)=>tơânh (Vân Kiều)=>tánh (Mường)=>đánh (Việt) có vẻ khá liền lạc và có tính hệ thống, nên không thể cho rằng từ “đánh” là người Việt đã vay mượn từ “đả” Hán Ngữ trong thời Bắc thuộc, dù âm đọc của nó rất gần với âm Trung cổ Hán Ngữ (MC) và Thượng cổ Hán ngữ (OC) của chữ “đả” 打.

Hơn nữa ngay trong Hán Ngữ khi thử tra trong Kinh Thi người viết phát hiện ra điều bất ngờ là hoàn toàn không có chữ “đả” nào cả, chỉ có “kích” mà thôi, như ở bài Kích cổ (đánh trống):

擊鼓
擊鼓其鏜、踊躍用兵。
土國城漕、我獨南行…
Kích cổ
Kích cổ kì thang , dũng dược dụng binh

Thổ quốc thành tào , ngã độc nam hành…

Thông tin này khá quan trọng, qua đó có thể phần nào nhận ra đả/đánh 打 có thể là một từ gốc phương Nam mới phổ thông trong Hán ngữ sau khi Hán tộc đã xâm chiếm và đồng hóa được nhóm Bách Việt ở phía Nam ? Có thể tham khảo thêm số liệu thống kê của Google hiện đại khi tra từ đả cổ 打鼓và kích cổ 擊鼓, tỉ lệ là 5.720.000/4.430.000 trường hợp nghiêng về đả cổ, cho thấy xu hướng phổ thông hóa theo thời gian của chữ đả.

Ngoài ra tra trong sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (許慎58-147, thời Đông Hán) có chú về chữ đả打như sau:

擊也。从手丁聲。都挺切 文十三 新附- kích dã, tòng thủ đinh thanh, đô đĩnh thiết. Văn thập tam. Tân phụ.

Chính hai chữ “tân phụ” nghĩa là mới bổ sung phụ vào sau mỗi quyển sách (của bộ Thuyết Văn giải tự) cũng cho thấy đây vốn không phải là từ “chính gốc” của Hán tộc, mà là một từ mới được bổ sung vào Hán ngữ chưa lâu !

Chúng tôi cũng đã thử tra trong phần chính văn (đã bỏ các chú thích của đời sau) của các sách Lão Tử, Mạnh Tử, Lễ Ký v.v. cũng không thấy có chữ “đả” nào cả, ngay cả cuốn sách lừng danh là Sử Ký của Tư Mã Thiên (145TCN – 86TCN, thời  Tây Hán) cũng không sử dụng chữ “đả” 打nào.

Tra trong Khang Hy Tự điển thì sách sớm nhất có chữ đả 打là Cốc Lương Truyện 穀梁傳, là một trong các sách chú giải kinh Xuân Thu, tương truyền do người nước Lỗ là Cốc Lương tiếp thu từ Tử Hạ 子夏-một trong các học trò Khổng Tử rồi viết thành truyện. Nhưng tìm hiểu kỹ thì thấy các nhà nghiên cứu nhận định đây chỉ là sách truyền khẩu, đến đời Hán mới được ghi lại thành sách, hơn nữa chữ đả 打lại ở phần chú thích của người đời sau chứ không phải chính văn (lời đối đáp của Cốc Lương) nên sớm nhất cũng chỉ mới có từ đời Hán mà thôi.

3.      Sơ kết

Ngoài trường hợp các cặp từ đề cập ở trên, chúng tôi đã thu thập được một số cặp từ khác bổ sung cứ liệu nhằm sáng tỏ giả thuyết về nguồn gốc phương Nam của một số từ Hán ngữ, chúng tôi sẽ trình bày tiếp trong loạt bài sắp tới.

 

—-

* Chú thích: Vương Lực là nhà ngôn ngữ học hàng đầu của Trung Quốc, nguyên là Hội trưởng Hội Ngôn ngữ học Trung Quốc, các tác giả khác đề cập trong bài cũng là những nhà ngôn ngữ học có danh tiếng quốc tế.