huge boobs pictures hd. 3gp desi glamcore perfect goddesses in oral.

https://eporner.monster destiny blonde has a sweet teen pussy.

Về địa giới phía Tây của nước Văn Lang

 

Trước đây tôi đã đăng rải rác các bài bàn về địa giới nước Văn Lang ghi trong sử Việt, giờ muốn tổng hợp lại.

1- Phía đông giáp Đông hải thì không có gì để nói.

2- Phía Bắc tới hồ Động Đình thì tôi đã dẫn cứ liệu ở Hậu Hán Thư cho biết người Lạc Việt từng cư trú ở huyện Trung Lư – Hồ Bắc, còn xa về phía Bắc hơn sử Việt nói nữa !
http://fanzung.com/?p=2379

3- Phía Nam tiếp giáp nước Hồ Tôn, có thể là tiểu quốc Chăm Aryaru ở vùng Phú Yên, tôi có đưa bài thông tin về sự hiện diện trống Đồng Đông Sơn ở Tây Nguyên, thực ra không nhằm chứng minh địa giới đó ở đèo Cù Mông phía bắc Phú Yên (dễ bị chụp mũ dân tộc chủ nghĩa !) mà muốn nói rằng sử Việt cũng có lý do gì đó khi viết như thế.
https://www.facebook.com/fananhzung/posts/2889280921085100

4- Bây giờ xin nói về địa giới phía Tây giáp Ba Thục (vùng Tứ Xuyên TQ).
Dữ liệu gen Y-ADN cho biết người Hán vùng Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên có tỉ lệ gen M88 là 11,8% (theo Xue, 2006), M88 là nhóm gen (haplogroup) đặc trưng của người Kinh, dữ liệu xin xem trang Wiki :
https://en.wikipedia.org/wiki/Haplogroup_O-K18…
Đó không phải con số nhỏ, vì dân số Thành Đô khoảng hơn 10 triệu nên sẽ có khoảng 1,18 triệu có gốc gác M88 (chính xác hơn thì chỉ tính đàn ông tức giảm đi một nửa). Con số đó là xấp xỉ dân số dân tộc H’Mông ở VN, nhiều hơn dân tộc Nùng và Dao, chỉ thua dân số người Tày và Thái ở VN.

Một liên hệ khác của nước Văn Lang với vùng Tứ Xuyên là nha chương tìm được ở Xóm Rền, Phú Thọ, rất giống nha chương khai quật được ở Tứ Xuyên, nhiều tác giả thận trọng cho rằng nó xuất hiện ở VN chỉ là do buôn bán trao đổi mà có, chứ hai bên không có liên hệ gì về văn hóa hay huyết thống, nhưng cứ liệu gen M88 hiện đại đã xác định là một phần dân cư Thành Đô có quan hệ huyết thống với người Kinh.

– Nếu lấy kinh đô Phong Châu của nước Văn Lang để định hướng thì Ba Thục lại ở hướng Bắc, nên có lẽ khi nói “phía Tây” là khi vùng đất trung tâm của dân Lạc Việt còn ở đâu đó vùng Hồ Nam chăng ?

– Từ cứ liệu gen M88 hiện diện ở vùng Ba Thục và cứ liệu dân Lạc Việc có cư trú ở Hồ Bắc trong Hậu Hán Thư, đều là các vùng tiếp giáp nhà nước Ân (Thương) thì truyền thuyết về thánh Gióng đánh giặc Ân của người Việt hóa ra không hẳn là “hoang tưởng” .

– Gọi là “địa giới nước” dễ bị phê phán vì cho đến nay “nước Văn Lang” chỉ được giới khoa học coi là một hình thức liên minh bộ lạc, chưa đạt tầm nhà nước, vậy trước mắt cứ tạm hiểu là “phạm vi đã từng cư trú” thôi, để tránh tranh cãi về cái không gian rộng lớn có vẻ phi lý của nước Văn Lang.

5- Ở trên là bàn về không gian địa lý còn về phạm vi thời gian tôi đã dẫn cứ liệu ở sách Thông Điển của Tể tướng nhà Đường là Đỗ Hựu thừa nhận vùng Lĩnh Nam lập quốc từ thời Đường Ngu, tức vua Nghiêu, tức khoảng 4200 năm trước, vậy con số hơn bốn nghìn năm không phải do các sử quan Đại Việt lấy các chuyện truyền kỳ vớ vẩn ghi vào chính sử:
http://vanhoanghean.com.vn/…/mot-so-dau-tich-ngon-ngu-nam-v…

Tạm chọn con số 4200BP thời vua Nghiêu là mốc bắt đầu, còn độ dài tồn tại thì dựa vào chuyện nước Việt Thường hiến lịch rùa thời vua Nghiêu, đến chuyện Việt Thường hiến chim trĩ thời Chu Thành Vương là khoảng 1.200 năm, dài bằng cả nhà Hạ và Thương của Trung Quốc cộng lại cho thấy dù thực tế không đạt đến mức tổ chức nhà nước đi chăng nữa thì Việt Thường vẫn được thư tịch Trung Quốc thừa nhận là “nước”, có lịch sử lâu dài tính bằng nghìn năm.

Tóm lại lịch sử “hơn 4000 năm” vốn xuất phát từ chính thư tịch của Trung Quốc chứ không phải sử sách Việt Nam tự ý bịa ra.

 

16/01/2020

 

沉船发掘和东海主权问题

阮越博士

顺化潘英勇譯

(劳动新闻2014年1月11日)

最近,因发掘沉船权与领土主权有关的争端再次使东海升温。值得注意的是,这些中国宣布无视该地区国家的实状主权国家,也无视诸国际公约,即中国商人的沉船残骸携带货物在国际水域是其中国领土主权的证据。 《劳动新闻》想介绍一下东南亚前史中心主任阮越(Nguyen Viet)博士的文章。

2008年,在广州召开的一次国际会议上,我结识了一位年轻的中国考古学教授,该教授在欧美进行了培训,目前在中国政府的海洋文化遗产所工作。

在第二次会议上-也是在2010年在中国河南举行的国际会议,这位教授透露说,中国政府已成立了一个研究和管理机构一种类型的海洋文化遗产,其中沉船和货物被视为重中之重。

越南地图。

最近的一次会议是在2012年,这位年轻的教授在他从中国社会科学院考古研究所到海洋文化遗产研究所的新任务之际,请我和一位德国同事吃饭,一起寻找海洋文化遗产领域的研究合作伙伴。

如此,中国政府希望与该地区国家协调寻找沉船和附带物品。他建议我合作或介绍另一位对沉船感兴趣的越南人合作者-会说英语或中文的考古学家。

中国想找到更多证据?

实际上,几十年来,中国科学家以及世界上许多国家对海难的研究,发掘和利用一直很感兴趣。但是,迄今为止,在中国发掘的大部分沉船都是河船或沿海船只。对于中国考古学家发掘,很少找到越海洋的大船只,例如带有[海南1号]象征的宋朝船,最近在中国海南岛被发掘。

在世界范围内,科学家之间在海洋文化遗产的调查,发掘和研究方面进行合作是固有的普遍和正常现象。

但是,中国国家海洋文化遗产研究所负责人刘曙光在谈到东海沉船时说:“我们希望找到更多可以证实中国人的证据到那里住与居,作为历史证据,以帮助承认中国主权在南中国海”(《美国华尔街日报》 1013年12月2日引用:“We want to find more evidence that can prove Chinese people went there and lived there, historical evidence that can help prove China is the sovereign owner of the South China Sea”)过于主观和不科学。

事实证明,中国考古学家对海上沉船进行调查和研究的问题并不纯粹是一个学术问题,而是支持所谓“牛舌线”(或“九点划线”)主权的荒谬要求在南中国海。

2012年9月,中国文化部副部长李小杰曾在参观越南黄沙群岛发掘的陶瓷制品展览时说过:“海洋考古的任务是证明国家主权”。

按照在海洋文化遗产领域代表中国政府的人的逻辑,在任何处沉船和有中国商品的地方,这处都是属中国的主权!

这是一个非常荒谬和大国的论点。国际杭海事历史还记录了这样的事实,即17世纪的荷兰船只在越南黄沙(Paracel)群岛上搁浅了。为了节省船上的船员和货物,荷兰人来到唐当的阮王(Lord Nguyen),成为对黄沙海的所有权和剥削的所有人。当时,荷兰人荷兰人当时已占领了整个印度尼西亚并台湾的一部分仍然尊重越南的主权,并不是那么荒唐,以至于强烈的要求:“何处有我的船和货物是我的土地”。

中国于1974年在当时的越南共和国主权下占领了Paracel群岛,这一目标现在对于在整个东海宣称“牛舌线”的政策是显而易见的,不是因为那里有铜币和中国陶瓷。

现在,他们在越南的Paracel地区公然组织了对中国陶瓷沉船的挖掘,然后进行展示,大声宣称它们是中国主权的证据在这海。显然,领土主权,领海和贸易往来是两个完全不同的问题。

请记住,为什么在10世纪末,在陆战之后,当时的大越皇帝黎桓(Le Hoan)正式向宋帝宣告,宋使者必须停在泰平的海门(在廉州,今中国广东省洲),待大越的船送入大越领海。

同样,来自宋国的商船也必须在雲屯港停靠,然后才被允许深入进入交州内水(大越)。

2013年6月,我参加了在平洲,平山,广义发掘的13-14世纪沉船。该船可能建在东京湾(包括越南北部海域和中国广东,广西海域)的海岸上,载有大量在中国近代宋原土地上生产的陶瓷。我还计划邀请中国同事开展研究合作。

当然,科学必须始终尊重真理。很难说这艘船是元人的一艘船,即使船上有一个带有元-蒙商标的青铜秤砣。认为元蒙人去了广义海滩并住居在这里,因此宣认此处属中国领海主权,这更荒谬。

实际上,大约在1282-1285年间,有一个元朝舰队由右丞相唆都(Söghetei)领导的,预谋威胁和侵略占城的,后从南向功击大越。占城军队和人民已挡截了此远征局,迫使唆都将舰队北上与脫欢(Toγan) 和乌马儿(Omar)进行协调,于1285年功击大越,然后在鹹子关遗弃了尸体。

在讨论与领土主权有关的商品和船只时,来自演州(乂安)乡下的一位朋友告诉我,商船驩和演(乂安,河静)仍在来自中国的商品,在该地区夜夜间都充满津了商船。简而言之,如果其中一艘船仅仅而意外沉没,拒在船中的货物,肤浅的人可能会声称这是中国船(?!)。

一个更典型是8-9世纪阿拉伯商人在广义海底的沉船。这个沉船近于在北面约2公里处的平洲沿海于2013年6月发掘另一条沉船,其中载有许多在长沙(湖北)和广东(中国)制造的唐代陶瓷。这是一艘阿拉伯商人的船,是根据阿曼(古代波斯湾)沿海地区流行的制船技术建造的。当时,一艘类似的阿拉伯船在北立东(Beilitung)海(印度尼西亚)被沉。阿拉伯人当然不会用他们的船去越南,印度尼西亚或中国的海洋,沉在那些海域而争取主权。同样,当明朝郑和商船带来贸易时,中国海洋文化遗产局的领导人是否对整个马达加斯加-Madagasca(东非海)拥有主权。 (?!)。

根据中国水产文化遗产中心的公告,在其2011-2015的五年计划中,他们的近期任务是着眼于郑和打造的“海上丝绸之路”。在16世纪的20世纪30年代,它首先侧重于在“南中国海”(即我们的东海)中发现沉船,以支持根据以下公式扩展领海的考古证据“牛舌线”-中国人民早已习惯于专注于在陆的道路,马车,但忘而未计划过在那儿领海。

最新的研究和发现证实,在20世纪初创建正式的国家地图之前,几代中国当局仍然将其领海限制在海南岛的南岸,黄沙群岛(中国现称的西沙)和长沙群岛(中国现称的南沙)再也没有被记录在其领土和领海主权中。

最近一次沉船領海冲突发生在2012年,发生在中国与菲律宾之间的被认为属于菲律宾的领海之间,最近成为与中国有争议的地区。这是士嘉堡浅滩地区(Scarborough Shoal)。当法国和菲律宾的考古学家在水域挖掘出一艘沉船时,中国政府恐吓了这艘监视船,并宣布这是非法挖掘,旨在军舰阻止进一步发掘。

正如中国海洋文化遗产中心主任刘曙光所解释的那样,这是十二世纪和十三世纪的中国船只,有助于维护中国对这些岛屿的主权。

反常论证
论拒“何处有中国商品和中国船只是中国领海”是反常论证,不管世界上所有的法律。例如,唐代在湖南和广东的陶器上购买了两艘8-9世纪的阿拉伯陶瓷船,它们在阿拉伯的船在北立东(Beilitung)(印度尼西亚)和广义(越南)沉没了。当然,中国陶瓷货物在船中必须要交换商品或用钱,金和银来支付,才能阿拉伯人正式成为这些陶瓷的合法所有人。他们的目的地是南印度地区的海港,或者在地中海附近的阿拉伯和非洲水域。因此,说拒船上货物的原产国而证该国的领海主权是不合理的。实际上,来自日本,韩国,大越,Java (印度尼西亚的爪哇省),罗斛(现在泰国)的商人过去曾将其货物带到中国进行贸易并购买物品从中国回来了。东海成为整个地区的共同运输路线。

越南考古学家曾发现和发掘一个沉船在 Cu Lao Cham (占島),载朱豆陶器(越南海阳),同记录了船人是罗斛文化人(La Hoc 泰国)来到越南交易。已载朱豆陶器到东南亚区域贸易,甚至到阿拉伯港口更远。

关于海洋和岛屿主权的争端现在已经蔓延到关于沉船的主权争端领域,每艘载有古代陶瓷的船只的资产价值高达数千万美元(USD )。对于我们这些从事科学工作的人来说,负责中国海洋文化遗产的那些人的言论威胁着进行可靠科学研究的合作,这可能导致面对和对抗不科学的政治目标。

自从海上沉船问题在世界范围内变得炙手可热以来,教科文组织(UNESCO)于2001年提出了《海洋文化遗产问题国际公约》。因此,这些国家以其国际法律地位尊重海洋,岛屿和领海的国家主权。

在共同海分,文化遗产被视为人类的共同遗产。国际海分沉船的研究和开发必须以有关国家之间互利合作的原则为基础。绝对不要使用武力垄断或争夺。

中国的宣布及策略对数百名水下考古学家进行培训并建造近200艘专门船以服务于沉船调查和发掘工作,以超越公认的国际水域的目的,引起该地区许多国家的关注。特别是当“科学”小组被用作在远离中国古老水域的地区建立海洋主权的先驱兵时,仅依靠运载中国商品的沉船。

正如明尼苏达(Minnesota)大学的美国人类学家杰弗里-亚当斯(Jeffrey L. Adams)指出的那样,尽管中国政府一直鼓励双方在海洋文化遗产领域进行科学研究方面的联合与协作,与中国海洋文化遗产有关的研究计划鼓励国际合作,都显国家主义印证。结果,世界各地的许多科学家发现在联合调查研究以及与中国进行平等和尊重国际法的发掘方面难以达成合作条件。

也许是时候让真正的中国科学家大声疾呼了,以使他们的整个科学事业不会因为强迫性的政治论点和弯曲的科学真理而陷入停顿。

在海上贸易领域的中国人民及其历史的确值得尊重。但是中国科学家以及世界各地的人们都知道,来中国买卖商品的商人以及中国商人带商到到外国贸易都無带领土扩张的意想,其如当任中国海洋文化遗产领导人的意图。他们专注于利用历史服务和煽动扩张和侵略的意图。

 

留在东海国际水域中的许多国家的成千上万的沉船不能变成证明任何国家的领土主权的工具。必须尊重国际公约,因为它是共同的海洋,沉船是人类的共同财产。

 

1/2014
阮越

 

Xem bài gốc tại link sau:

http://www.drnguyenviet.com

 

“Chút ước” hay là “chút đích” ? (Về câu 76 ở Truyện Kiều)

Câu 76 của Truyện Kiều các bản quốc ngữ phổ thông hiện nay chọn theo dị bản “Thời chi chút ước gọi là duyên sau”, nhưng các bản Nôm cổ lại chép là “Thời chi chút đích gọi là duyên sau”, vậy đâu là nguyên tác của Nguyễn Du? Bài này sẽ thảo luận vấn đề đó.

Trước hết điểm lại chín bản Nôm và quốc ngữ cổ nhất mà cố Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã dày công tập hợp thống kê. Theo Giáo sư Cẩn thì có 6 bản theo “chút đích” là các bản:

– Duy Minh Thị 1872
– Lâm Nọa Phu 1870
– Trương Vĩnh Ký 1875
– Quan Văn Đường 1897
– A.D.Michels 1884
– Kiều Oánh Mậu 1902
Chỉ có 3 bản theo “chút ước” là các bản:
– Liễu Văn Đường 1871
– Thịnh Mỹ Đường 1879
– Bản VNB Thái Bình 1860

Chúng tôi khi phiên chú bản Nôm Kiều Oánh Mậu (“Truyện Kiều chữ Nôm” Nhà xuất bản Thuận Hóa 2000) tuy đã phiên đúng theo Kiều Oánh Mậu là “chút đích” nhưng cũng phân vân muốn theo “chút ước” vì thấy dễ hiểu hơn. Chúng tôi có dẫn chú thích của Kiều Oánh Mậu rằng “đích” là tiếng Nghệ Tĩnh, nhưng tiếc là Kiều Oánh Mậu lại không nói rõ trong tiếng Nghệ  “đích” nghĩa là gì. Nguyên chú của Kiều Oánh Mậu ở bên lề sách bằng chữ Nôm như sau “Chút đích Nghệ An nhân tục ngữ hoặc tác chút ước, phi! ” (Chút đích là tiếng tục ngữ của người Nghệ An, có bản ghi chút ước là sai).
Ảnh minh họa chụp lại chú thích của Kiều Oánh Mậu ở lề sách (trong khung màu đỏ):

Còn trong công trình phục nguyên bản sơ thảo Truyện Kiều của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn “THỬ TÌM HIỂU BẢN SƠ THẢO ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH” (Nhà xuất bản Giáo Dục 2008), Giáo sư đã quyết định phục nguyên theo nhóm đa số ở trên, tức là “chút đích”, chứ không theo “chút ước” như các bản quốc ngữ phổ biến thời nay, phần chú thích Giáo sư chú rằng “ĐÍCH = chút xíu (TĐ tiếng Nghệ)”, rất giản dị và ngắn gọn chứ không thảo luận dài hơi như với nhiều trường hợp dị bản khác, tức là Giáo sư dứt khoát theo “chút đích”, không có hồ nghi gì cả.

Gần đây nhân có dịp phiên chú văn bản Hán Nôm “Thánh Tổ Bản Hạnh” ghi sự tích thiền sư Dương Không Lộ, chúng tôi có gặp một câu có từ cổ “đích” như sau:

Đích nay tài đức khả gia
Quan ư thiên hạ ắt là cũng nên.

Nội dung đoạn này kể chuyện vị sư Đại Điên hiện hình thành đứa trẻ mới ba tuổi đã đôn mẫn thông minh hơn người lại có pháp thuật, vua Lý Nhân Tông chưa có con trai nên muốn truyền ngôi cho đứa bé, nhưng triều thần can gián, bảo rằng nếu đứa bé có tài phép thì cứ thác sinh làm thái tử con vua luôn đi…
Chúng tôi xác định chữ đích ở bản Nôm trên là từ cổ chỉ đứa trẻ đó, và liên hệ với chữ “đích” trong câu 76 Truyện Kiều với nghĩa “chút ít”, “chút xíu”, ở đây dùng để gọi một đứa bé (ít tuổi, còn nhỏ xíu) xét ra cũng có nghĩa.
Chúng tôi lại đi xa hơn, mở cuốn từ điển Mường Việt  (Nguyễn Văn Khang chủ biên, 2002), tra chữ đích thì thấy tiếng Mường hiện vẫn còn lưu giữ được từ “đét” nghĩa là bé nhỏ, ví dụ “đét con” là trẻ con, cùng với hàng loạt từ phái sinh cho thấy nó rất phổ thông trong tiếng Mường, xin chép hết ra đây:

*đét:. Tàn ủn đét ti pùng khác dỗng. Các em bé đi chỗ khác chơi. Đét nhãm. Trẻ con khóc.

*đét con: trẻ con. Yêu chi nhơ yêu đét con. Yêu gì như yêu trẻ con. (Yêu gì bằng yêu trẻ con).

*đét ẻl: trẻ ranh. Tàn đét ẻl, pay pổl càn cải chi? Bọn trẻ ranh, chúng bay nghịch ngợm gì hả?

*đét mởi té: trẻ sơ sinh. Ảo nì tí măc cho đét mởi té. Áo này dùng cho trẻ sơ sinh.

*đét nhó: trẻ thơ. Cho tàn đét nhó nì ăn tlước ti. Cho đám trẻ thơ này ăn trước đi.

*đét tlu: trẻ (chăn) trâu. Mẩy thàng đét tlu nì ngoan. Mấy đứa trẻ trâu này rất ngoan.

Dữ liệu ở tiếng Mường đã ủng hộ mạnh mẽ cho chú giải của Giáo sư Cẩn.

Chú ý rằng chữ đích 的 vốn có âm Nôm là “đít” là tiếng tục để gọi hậu môn (lỗ đít), nếu phiên sát âm Nôm thì câu 76 phải là “Thời chi chút đít…”, phải chăng chính do cái âm Nôm “hơi bị tục” này mà các bản truyện Kiều sau thời Nguyễn Du đã đổi “chút đít” ra “chút ước” cho văn vẻ mĩ miều hơn ?

Lại xét về ngữ âm lịch sử, trong tiếng Việt vốn có biến âm đ=>n như đác=>nước, đăm (Mường)=>năm, độc=>nọc, đau=>nau, đủ=>no (tiếng Mường đủ là đo), đây=>nầy/này, đỏn (Mường)=>nón(Việt)  v.v.  như vậy từ nít (con nít, trẻ nít) của miền Bắc có lẽ cũng gốc từ “đích”, “đít”, “đét” ở tiếng Nghệ và tiếng Mường mà ra… ngoài ra âm “đít” còn có thể chuyển hóa thành “dít” (như cây đa cũng nói cây da) rồi thành “nhít” trong biến thể “con nít”/”con nhít”.

Để kết thúc bài tản văn ngắn này xin chép lại bài hát Trống cơm
Tình bằng có cái trống cơm
Khen ai khéo vỗ (ấy mấy) bông nên bông
Một đàn (tang tình là) con nít (ấy mấy) lội sông đi tìm…

HUẾ. 9/2019.

 

Bài gốc đăng ở Văn Hóa Nghệ An
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/chut-uoc-hay-la-chut-dich-ve-cau-76-o-truyen-kieu-2