Khả năng chữ ĐẢ 打 HÁN có nguồn gốc Nam Á

1.      Đặt vấn đề:

Trong bài viết tham gia hội thảo nhân một năm ngày mất của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (2012) người viết từng đặt vấn đề về việc có nhiều từ Hán ngữ có thể có nguồn gốc Nam Á, dựa trên sự so sánh đối lập một số cặp từ gốc Hán-Tạng vùng Hoàng Hà và gốc Bách Việt vùng Trường giang như Hà/Giang (河/江), Thổ/Địa (土/地),  Túc/Chỉ (足/趾),  Xã/Lý (社/里), Nội/Trung (內/中)… ở đây xin tiếp tục đưa ra một trường hợp khác là cặp từ Kích/Đả (擊/打).

 

2.      Khảo sát cặp từ Kích/Đả (/打)

Chữ đả 打 có phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ (OC) theo các nhà ngôn ngữ học như sau:

Karlgren: te ̆ŋ
Lí Phương Quế: triŋx
Vương Lực: teŋ
Baxter: treŋʔ
Trịnh Trương Thượng Phương: rteŋʔ
Phan Ngộ Vân: rteeŋʔ

Về âm Trung cổ Hán ngữ của chữ đả thì có thể căn cứ ở Khang Hy Tự điển, chú như sau: 《唐韻》《集韻》《韻會》都挺切,音頂。{Đường vận} {Tập vận} {Vận hội} đô đĩnh thiết , âm đỉnh. Tức là âm cuối -ng (-ŋ) vẫn còn tồn tại đến thời Trung cổ.

Nếu không tính thanh điệu thì phục nguyên âm thượng cổ của các tác giả Vương Lực và Karlgren trùng với từ “tảnh” cũng là “đánh” trong tiếng Mường, chính bộ phận biểu âm của chữ đả 打 là chữ đinh/đanh 丁cũng cho thấy rõ dạng âm cổ gần với tiếng Việt.

Từ “đánh” ở tiếng Bru-Vân Kiều là tơânh, ở tiếng Katu là đhưng … các ngôn ngữ này đều thuộc nhóm Môn-Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á. Sự chuyển hóa: đhưng (Cơ tu)=>tơânh (Vân Kiều)=>tánh (Mường)=>đánh (Việt) có vẻ khá liền lạc và có tính hệ thống, nên không thể cho rằng từ “đánh” là người Việt đã vay mượn từ “đả” Hán Ngữ trong thời Bắc thuộc, dù âm đọc của nó rất gần với âm Trung cổ Hán Ngữ (MC) và Thượng cổ Hán ngữ (OC) của chữ “đả” 打.

Hơn nữa ngay trong Hán Ngữ khi thử tra trong Kinh Thi người viết phát hiện ra điều bất ngờ là hoàn toàn không có chữ “đả” nào cả, chỉ có “kích” mà thôi, như ở bài Kích cổ (đánh trống):

擊鼓
擊鼓其鏜、踊躍用兵。
土國城漕、我獨南行…
Kích cổ
Kích cổ kì thang , dũng dược dụng binh

Thổ quốc thành tào , ngã độc nam hành…

Thông tin này khá quan trọng, qua đó có thể phần nào nhận ra đả/đánh 打 có thể là một từ gốc phương Nam mới phổ thông trong Hán ngữ sau khi Hán tộc đã xâm chiếm và đồng hóa được nhóm Bách Việt ở phía Nam ? Có thể tham khảo thêm số liệu thống kê của Google hiện đại khi tra từ đả cổ 打鼓và kích cổ 擊鼓, tỉ lệ là 5.720.000/4.430.000 trường hợp nghiêng về đả cổ, cho thấy xu hướng phổ thông hóa theo thời gian của chữ đả.

Ngoài ra tra trong sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (許慎58-147, thời Đông Hán) có chú về chữ đả打như sau:

擊也。从手丁聲。都挺切 文十三 新附- kích dã, tòng thủ đinh thanh, đô đĩnh thiết. Văn thập tam. Tân phụ.

Chính hai chữ “tân phụ” nghĩa là mới bổ sung phụ vào sau mỗi quyển sách (của bộ Thuyết Văn giải tự) cũng cho thấy đây vốn không phải là từ “chính gốc” của Hán tộc, mà là một từ mới được bổ sung vào Hán ngữ chưa lâu !

Chúng tôi cũng đã thử tra trong phần chính văn (đã bỏ các chú thích của đời sau) của các sách Lão Tử, Mạnh Tử, Lễ Ký v.v. cũng không thấy có chữ “đả” nào cả, ngay cả cuốn sách lừng danh là Sử Ký của Tư Mã Thiên (145TCN – 86TCN, thời  Tây Hán) cũng không sử dụng chữ “đả” 打nào.

Tra trong Khang Hy Tự điển thì sách sớm nhất có chữ đả 打là Cốc Lương Truyện 穀梁傳, là một trong các sách chú giải kinh Xuân Thu, tương truyền do người nước Lỗ là Cốc Lương tiếp thu từ Tử Hạ 子夏-một trong các học trò Khổng Tử rồi viết thành truyện. Nhưng tìm hiểu kỹ thì thấy các nhà nghiên cứu nhận định đây chỉ là sách truyền khẩu, đến đời Hán mới được ghi lại thành sách, hơn nữa chữ đả 打lại ở phần chú thích của người đời sau chứ không phải chính văn (lời đối đáp của Cốc Lương) nên sớm nhất cũng chỉ mới có từ đời Hán mà thôi.

3.      Sơ kết

Ngoài trường hợp các cặp từ đề cập ở trên, chúng tôi đã thu thập được một số cặp từ khác bổ sung cứ liệu nhằm sáng tỏ giả thuyết về nguồn gốc phương Nam của một số từ Hán ngữ, chúng tôi sẽ trình bày tiếp trong loạt bài sắp tới.

 

—-

* Chú thích: Vương Lực là nhà ngôn ngữ học hàng đầu của Trung Quốc, nguyên là Hội trưởng Hội Ngôn ngữ học Trung Quốc, các tác giả khác đề cập trong bài cũng là những nhà ngôn ngữ học có danh tiếng quốc tế.