Tìm hiểu lớp từ cổ Việt-Hán

TÌM HIỂU VỀ LỚP TỪ CỔ VIỆT HÁN QUA CÁC CỨ LIỆU NGỮ ÂM LỊCH SỬ

(About the Viet-Han ancient words class through
the historical phonetic data)[1]

Phan Anh Dũng

Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế

Tóm tắt:

Bài viết đưa ra bảng so sánh các từ cổ Việt-Hán trong tiếng Việt với các tư liệu phục nguyên âm thượng cổ Hán ngữ của các từ này theo các tác giả Bernhard Karlgren  ( 高本漢 ), William H. Baxter  ( 白一平 ) , Vương Lực  ( 王力 ) … Từ đó rút ra một số nhận xét đánh giá về nguồn gốc lớp từ cổ Việt Hán này.

 1.      Khái quát.

Bài này tiếp tục một số bài viết trước của tác giả về mối quan hệ giữa Hán ngữ cổ đại với các ngôn ngữ họ Nam Á (Austro-Asia). Và đặt vấn đề xem xét lại nguồn gốc của Hán ngữ, phải chăng Hán ngữ có thể không phải chỉ có nguồn gốc Tạng Miến mà còn có một phần có gốc từ họ Nam-Á mà đại diện tiêu biểu là nhóm Mon-Khmer ?

Các nghiên cứu về xếp loại ngôn ngữ cho tiếng Việt đã chỉ rõ rằng, về lớp từ cơ bản tức là lời ăn tiếng nói hàng ngày thì tiếng Việt phải xếp vào họ Nam Á, nhóm Môn-Khmer, phản ánh “tiếng mẹ đẻ” của người Việt chính là tiếng nói của cư dân bản địa vùng châu thổ sông Hồng và xa hơn là miền Trung Việt Nam cổ xưa… nhưng các vấn đề như có thanh điệu phức tạp, xu hướng đơn âm hóa triệt để, kho từ vựng có nhiều từ chung chịu ảnh hưởng của họ Thái-Kadai và Hán-Tạng .v.v. thì lại cho thấy tiếng Việt có thể xếp vào họ Hán Tạng hay Thái-Kadai, đó cũng là cách phân loại của các nhà ngôn ngữ học khoảng năm 1950 về trước, chỉ sau này khi có các số liệu thống kê về số lượng từ cơ bản thì xu hướng xếp tiếng Việt vào họ Nam Á (Mon-Khmer) mới thắng thế.

Người viết cho rằng sau khi vất bỏ các yếu tố hoang đường thì truyền thuyết ghi trong sử Việt về Lạc long quân vốn là dòng dõi Thần Nông có thể phản ánh một sự thực lịch sử, đó là có một nhóm tộc thuộc thị tộc Thần Nông khoảng gần 5000 năm trước đã từ vùng Hồ Động đình dịch chuyển về phía Nam xuống vùng Lưỡng Quảng rồi đi tiếp xuống vùng đồng bằng sông Hồng khoảng hơn 4000 năm trước [2], đó là lúc đồng bằng sông Hồng vừa phát lộ trở lại sau sự kiện “đại hồng thủy” – biển tiến Flandri. Nhóm thị tộc Thần Nông này đã hợp huyết với cư dân bản địa gốc Mon-Khmer ở vùng Thanh Hóa, Hòa Bình cùng tiến xuống biển khai thác vùng đồng bằng vừa mới phát lộ. Cũng theo quan điểm của người viết thì chính cuộc thiên di của thị tộc Thần Nông (Lạc Long Quân) nói trên đã đem đến cho kho từ vựng của người Việt lớp từ “cổ Việt Hán”, lớp từ này tách biệt hẳn về thời gian tới khoảng hai nghìn năm so với lớp từ “Hán Việt” du nhập về sau trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, nên cả người Hán lẫn người Việt bình thường (không phải người nghiên cứu về ngôn ngữ) nhìn qua thì khó hình dung ra nguồn gốc chung của chúng.

Về cội nguồn lớp từ cổ Việt Hán, xuất phát từ chỗ thị tộc Lạc Long Quân vốn là một trong các nhóm tộc Bách Việt thời thượng cổ ở lưu vực Trường Giang (phía Nam hồ Động Đình) chứ không phải nhóm Hán tộc phương Bắc ở lưu vực Hoàng Hà, nên người viết cho rằng lớp từ này có gốc Nam Á hay cận Nam Á, và có thể có pha trộn ít nhiều với họ ngôn ngữ Hán-Tạng và Thái-Kadai, vì vùng Hồ Bắc và Hồ Nam vốn là vùng bản lề tiếp xúc của các nhóm tộc Khương (phía Tây Bắc), Hán (phía Bắc và Đông Bắc) và Bách Việt (phía Đông và Nam), Thái-Kadai (Nam và Tây Nam). Các số liệu dẫn chứng dưới đây cũng cho thấy lớp từ cổ Việt Hán bảo lưu được nhiều vết tích ngữ âm cổ và gần với âm Hán thượng cổ hơn là âm Hán trung cổ, vì vậy người viết đã dùng cách gọi “lớp từ cổ Việt Hán” (đặt chữ Việt trước chữ Hán) để nhấn mạnh nguồn gốc cận phương Nam của lớp từ này.

Về sau khi có cuộc thiên di lớn về phía Bắc và “hòa hợp dân tộc” giữa nhóm thị tộc Thần Nông của Viêm Đế với nhóm Hán tộc “chính gốc” phương Bắc của Hoàng Đế ở lưu vực Hoàng Hà, lớp từ “cổ Việt Hán” này có thể đã tham gia hình thành Hán ngữ thượng cổ. Như vậy Hán Ngữ cổ không hẳn là “thuần Tạng-Miến” mà có thể có một phần pha trộn Mon-Khmer.

Về vấn đề các nhóm tộc cổ xưa ở lưu vực Trường Giang nói một thứ ngôn ngữ phương Nam, dẫn chứng mà các nhà nghiên cứu hay nhắc đến là chữ giang  江 vốn có biểu âm là chữ “công”, phù hợp với các ngôn ngữ phương Nam “krông”=”không”=”sông” … Trong bài viết dự Hội thảo nhân một năm ngày mất Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn [15] người viết cũng có dẫn ra cứ liệu cho thấy từ “địa 地”, phục nguyên âm thượng cổ theo Baxter là “djejs” có thể cùng gốc với tiếng Mon-Khmer “đây” và tiếng Việt “đất”[3]. Hơn nữa nếu dựa vào bản đồ thiên di của người thượng cổ phát nguyên từ Châu Phi như dưới đây thì các nhóm tộc ở lưu vực Trường Giang vốn từ đồng bằng sông Hồng thiên di về phía bắc cách nay khoảng 1,5 vạn năm, nên việc họ nói một thứ ngôn ngữ phương Nam gần với họ tiếng Việt (Mon-Khmer) là việc khá tự nhiên (http://tieba.baidu.com/f?kz=724009126):

 2.      Số liệu thống kê và vài nhận xét ban đầu.

Xin xem hai bảng thống kê về lớp từ cổ Việt Hán ở phần phụ lục dưới đây, tuy chỉ là số liệu thống kê sơ bộ nhưng cũng thấy lớp từ này không phải là nhỏ, bảng 1 có hơn 250 chữ. Các số liệu đó đều rút từ tài liệu phục nguyên âm thượng cổ Hán của các nhà nghiên cứu nổi tiếng như Bernhard Karlgren[4] (高本漢 , Cao Bản Hán), William H. Baxter[5] (白一平 , Bạch Nhất Bình) , Vương Lực[6] (王力) … Lưu ý trong bảng đó chúng tôi chủ ý chọn những từ thuộc, hoặc khá gần, lớp từ cơ bản của tiếng Việt, và tránh những từ có vẻ quá gần với âm Hán Việt (âm Hán Trung cổ) để loại trừ khả năng nó là “đọc trại” của âm Hán Việt diễn ra sau khi VN đã giành lại độc lập.

Vài nhận xét sơ bộ:

-         Những từ đã thống kê phần nhiều đều là những từ khá cơ bản và thông dụng của tiếng Việt.

-         Số lượng từ có thể coi là “thượng cổ Việt Hán” khá lớn dầu mới chỉ thống kê sơ qua, điều đó đủ cho thấy trong tiếng Việt tồn tại một lớp từ còn lưu giữ dấu vết âm Hán thượng cổ cực kỳ xa xưa, theo người viết có thể là từ thời đại Tam Hoàng-Ngũ Đế hay giai đoạn từ Hạ tới đầu Thương.

-         Từ các bảng thống kê thấy Baxter phục nguyên với nhiều tiền âm tố và phụ âm đầu kép nên chúng tôi cho rằng Baxter phục nguyên ở mức xưa hơn Karlgren và Vương Lực, có lẽ Baxter không dừng ở mức thượng cổ Hán ngữ mà đã gần tới mức proto-Tạng-Hán (tiền Hán Tạng ngữ), một số từ phải lần đến mức của Baxter mới nhận ra dấu vết tương quan với từ cổ Việt , như rồng (b-rjoŋ, k- rjoŋ), sông (kroŋ), lúa (luʔ=đạo 稻).

-         So sánh tương đối trong phạm vi bảng thống kê thấy âm Việt hiện đại của các từ cổ Việt Hán có vẻ gần âm thượng cổ Hán nhất, sau đó mới đến âm Mân Nam rồi âm Quảng Đông, còn âm chính thống của tiếng Hán ngày ngay (Pinyin) lại xa âm Hán thượng cổ hơn cả. Điểm ngạc nhiên là xem trên bản đồ thì Quảng Đông gần VN hơn Mân Nam, nhưng nhiều từ cổ âm tiếng Việt có vẻ giống Mân Nam hơn Quảng Đông.

-         Đối với nhóm từ “tươi, lười, tỏi” phục nguyên của 3 tác giả Karlgren, Vương Lực, Baxter đều không có -i cuối mà thống nhất là -n. Nhìn qua ví dụ đó thì tiếng Việt có vẻ như đã biến âm nhiều so với âm thượng cổ trong khi tiếng Hán (tiên  鮮, lãn  懶, toán  蒜) còn giữ khá gần. Nhưng xét kỹ hơn thấy phần biểu âm của chữ “lãn” là chữ “lại”, cho thấy chứng tích của âm cuối -i hay -j thời cổ. Theo GS Nguyễn Tài Cẩn thì thời Kinh Thi nhóm này còn gieo vần với -j , đến Đạo Đức Kinh thì chỉ còn vần với -n, gieo vần với -j còn có thể là -l, -r  nhưng nói chung là -i xưa hơn cả -n.

 

3.      Vấn đề niên đại lớp từ cổ Việt Hán:

1- Từ bảng phụ lục có thể thấy là âm tiếng Việt hiện đại của lớp từ cổ Việt Hán còn bảo lưu được nhiều ngữ âm Hán thượng cổ, thậm chí có vẻ còn gần âm Thượng cổ Hán hơn cả âm Hán Trung cổ tức âm Hán Việt định hình khoảng đời Đường.

- Ví dụ về phụ âm đầu (thanh mẫu) : nhóm từ buồng, buộc, búa, bùa, bay, buôn … còn giữ phụ âm đầu b- thời Thượng cổ, trong khi âm Hán Trung cổ đã chuyển thành f-   (phòng, phọc, phủ, phù, phi, phán …)

- Ví dụ về vần (vận mẫu): các từ vốn vận bộ ca  歌 tiếng Việt vẫn còn giữ được âm cuối -i, phù hợp với vận bộ ca Thượng cổ vốn có âm cuối là -r, -l, -j. Như ngài (nga), vãi (bá), mài (ma), lưới (la), lái (đà), cái (cá), trái (tả) … Xin xem chi tiết hơn ở phần phân tích thống kê ở dưới về những từ cổ Việt Hán có âm cuối “-i” này, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn từng viết: “Ở trường hợp từ thuần Việt, tuổi của âm cuối *-i như vậy là rất cao, vì nó không những lên đến thời Việt Mường chung mà còn lên đến thời Proto Việt Chứt cách đây đã trên 3000 năm. Có thể có trường hợp -i còn có nguồn gốc xa hơn nữa …”, con số trên 3000 năm này ít nhiều gợi ý cho chúng ta mức độ cổ của lớp từ cổ Việt Hán.

2- Về đại để thì âm Hán Thượng cổ thường được hiểu là ngữ âm tiếng Hán thời Chu, tuy nhiên thời Chu dài đến hơn 800 năm, mà một số từ cổ Việt Hán có thể đến thời Tần-Hán vẫn còn giữ ngữ âm thời Chu, cho nên nếu chỉ dựa vào sự giống nhau nêu trên thì vấn đề niên đại lớp từ cổ Việt Hán vẫn còn khá mơ hồ. Để có định lượng chính xác hơn một chút, chúng tôi căn cứ vào một đoạn mà Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn viết trong sách “Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt”, trang 323: “Những tiếng cổ Hán Việt như tươi, lười, tỏi, vãi chứng minh điều đó: đây là những tiếng có âm cuối -*r hay -*l có khả năng gieo vần với những tiếng có -*j ở giai đoạn Kinh Thi, nhưng đến Đạo Đức Kinh thì chúng chỉ còn gieo vần với những tiếng có -*n. Rõ ràng tươi, lười, tỏi, vãi … đã được du nhập trước quá trình diễn biến -r > -*n, nghĩa là trước thời Tây Hán khá lâu”.

Thời Đạo Đức Kinh là khoảng 600 năm trước CN, còn thời Kinh Thi là khoảng đầu thời Chu, 1000 năm trước CN, như vậy bước đầu chúng ta đã có những con số định lượng tương đối cụ thể cho niên đại lớp từ cổ Việt Hán, việc khảo sát chính xác hơn cần có thời gian.

3- Thêm một dẫn chứng có thể quy kết về niên đại, đó là phục nguyên âm cổ của chữ “chỉ”  趾 (chân), mà chúng tôi từng đưa ra ở bài viết trước [15]. Xin tóm tắt lại như sau: chữ chỉ趾nghĩa là chân, phục nguyên âm Thượng cổ theo Karlgren: ȶi ̯əg, trong khi từ “chân” của tiếng Việt theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn thời cổ vốn có âm cuối -ŋ, trong sách “Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt” trang 199  Giáo sư viết: “… chúng ta chỉ có hai ví dụ là từ chân và lên (và liên quan tới lên là từ trên). Ở hai từ này có lẽ ta phải phục nguyên  *-ŋ cho thời Proto Việt Chứt, hay chậm nhất thì cũng cho thời Proto Pọng Chứt chung”. Mà Proto Việt Chứt là khoảng hơn 3000 năm trước, tức là cuối đời Thương, tại thời điểm đó đã có sự đối ứng giữa âm cuối -g của Hán ngữ với -ŋ tiếng Việt cổ, còn thấy qua việc chữ “chi”  之 (là chữ vận bộ của chỉ  趾 , cũng có phục nguyên ȶi ̯əg) trong tiếng Việt được dịch thành “chưng”. Người viết ước đoán -g khi đó thực ra không đồng nhất đồng nhất hoàn toàn với -ŋ, mà thời điểm đồng nhất có thể còn xa hơn cả nghìn năm trước, tức là ứng với giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương, có thể khi đó âm cuối  -g  và -ŋ  của “chỉ” và “chân” đồng nhất vào âm cuối -ʔ, giống như phục nguyên của Baxter là : tjəʔ .

4- Mức độ “vượt thượng cổ” của lớp từ cổ Việt Hán còn có thể thấy ở một từ đặc biệt, đó là từ thoát 脫 (lọt):

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt HánViệt pinyin
(Đường âm)
t’wɑt thuat hlot lọt  thoát  tuo1
Baxter phục nguyên là hlot, khác rất nhiều âm Pinyin “tuo1” cũng như âm trung cổ (Đường âm) “thoát”, nhưng lại khá gần với tiếng thuần Việt “lọt”, người Việt vẫn hiểu “thoát lưới” cũng như “lọt lưới”…

Nếu ai còn nghi ngờ việc phục nguyên của Baxter thì xin xem thêm tài liệu [9] của chính người TQ, cũng phục nguyên âm thượng cổ Hán của  脫  là *hluat và còn cho cả âm Proto Tạng-Miến của nó là *g-lwat như hình dưới, chụp từ tài liệu [9], tài liệu này cũng ủng hộ nhận xét của chúng tôi là Baxter đã phục nguyên rất xa, tới gần thời Proto Hán-Tạng:

 

 4.      Vấn đề nguồn gốc lan truyền lớp từ cổ Việt Hán:

 Khoảng thời gian 1000-600 năm TCN tạm định ra ở mục trên tách xa hẳn với thời Bắc Thuộc, vậy những từ cổ Việt Hán truyền vào Việt Nam qua đường nào ? Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có đưa ra cách giải thích là nhiều từ gốc Hán người Việt mượn gián tiếp qua Thái-Kadai, ở trang 322 “Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt” Giáo sư viết : “Các từ như ngan, bừa, cuốc, vãi, phân, bánh, mùa, cam, quýt, tỏi, ao, đầm, chèo… cũng đều có thể là từ gốc Hán; nhưng rất có thể chúng được du nhập vào ngôn ngữ Việt-Mường thông qua Thái-Kadai”. Tuy nhiên các cứ liệu di truyền học Y-ADN mới công bố gần đây lại cho thấy các chỉ số di truyền Y-ADN của người Việt khá xa với nhóm Tày-Nùng ở biên giới Việt-Trung mà lại gần với người Hán Quảng Đông, Quảng Tây và nhóm Choang ở vùng Nam Ninh, thủ phủ Quảng Tây, phía bắc sông Châu Giang. Cho nên người viết đi đến nhận định rằng lớp từ cổ Việt Hán đó là của tổ tiên người Việt truyền lại từ rất xưa, nhiều từ gốc gác có thể trước cả thời Chu nữa, chứ không phải là mượn của Hán ngữ gián tiếp qua Thái-Kadai, và với mức cổ như thế thì cũng không thể nói là mượn của Hán tộc nữa, chẳng qua là quan hệ cùng một gốc xuất xứ thôi. Khoảng 1000-600 năm TCN tức là trước giai đoạn Bắc thuộc khá lâu nên khó có thể cho là người Việt “học” lại người Hán lớp từ này trong thời Bắc thuộc rồi đọc trại đi như ý kiến của một số người.

Từng có giả thuyết cho rằng người Việt (Kinh) vốn từ vùng trung Việt hay trung Lào tiến ra xâm chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ của dân Thái-Kadai, hòa trộn với Thái-Kadai và sau đó đã học nghề trồng lúa cùng với nền văn minh nông nghiệp của dân Thái-Kadai… từ đó nhận định rằng nhóm Thái-Kadai mà đại biểu hiện nay là người Choang, Tày, Nùng  mới đúng là cư dân cổ xưa ở vùng đồng bằng sông Hồng chứ không phải dân Kinh. Nhưng niên đại của sự kiện trên có thể khoảng 3500 năm trước[7], tức là rất xa xưa, trước thời Bắc thuộc đến ngàn rưởi năm, trước cả lúc hình thành nền văn minh trống đồng của các nhóm tộc Lạc Việt, nên không thể tách rời người Việt (Kinh) khỏi nền văn minh Lạc Việt cổ với thể hiện tiêu biểu là trống đồng được. Sau đây là vài số liệu so sánh ngôn ngữ về các từ liên quan tới nghề nông giữa hai nhóm Việt-Mường và Thái-Kadai (gồm Tày và Thái đen là hai nhóm Thái-Kadai có địa bàn cư trú tiếp giáp với người Việt) cho thấy giả thuyết trên có điểm đáng ngờ:

Tiếng Việt Tiếng Mường Tiếng Tày Thái đen Tiếng Hán Chữ Hán
Trâu Tlu Vài Quãi Thủy ngưu  水牛
Ngúa Ngưu
Cày Cằl Thay Thay Canh
Bừa Pừa Phưa Ban Sừ
Ruộng Điền
Mạ Chả Cả Miêu
Lúa Khẩu Khảu Hòa, Đạo 禾稻
Thóc ? Khẩu Khảu Đạo, Mễ,Cốc 稻米穀
Gạo Cảo Khẩu Khảu Mễ, Cốc 稻米穀
Rơm Thóc Vàng Phưỡng Đạo can 稻杆
Rạ ? ? Phưỡng Đạo can 稻杆
           

Nhận xét bảng trên:

1- Các từ căn bản liên quan tới nghề trồng lúa tiếng Việt khác nhóm Thái-Kadai nhiều.

2- Tiếng Việt có các từ phân biệt rất chi tiết từ cây mạ cho tới cây lúa, hạt thóc, hạt gạo, rơm, rạ … trong khi Thái gọi chung thóc, lúa, gạo là “khảu”, gọi chung rơm, rạ là “phưỡng”. Tiếng Việt cũng có từ riêng “nghé” để gọi trâu con, còn bò con có tên riêng là “bê”.

3- Con trâu là đầu cơ nghiệp nhà nông nhưng tiếng Việt “trâu” hay tiếng Mường “tlu” lại khác hẳn tiếng Thái đen “kvai” (quãi) và tiếng Tày “vài” (còn đọc là “hoài”), còn con bò tiếng Việt (hay mò tiếng Mường) cũng khác hẳn tiếng Thái đen “ngúa” (có lẽ ngúa cùng gốc với ngưu của nhóm Hán-Tạng ?). Trong lúc đó người Di tận Quý Châu TQ lại gọi con bò là “lɯ” khá giống với tiếng Việt Mường cổ gọi con trâu là “t-lu” … Người Di có thể từng là cư dân cổ xưa vùng Hồ Bắc, Hồ Nam, trong đó có vùng Tương Giang ở Hồ Nam từng được các nhà nghiên cứu TQ gọi là “Cổ Lạc Việt chi địa”, người Di cũng là một trong số ít tộc gốc Hán Tạng nhưng lại có một phần M88, là nhóm nhiễm sắc thể Y-ADN đặc trưng của người Kinh.

4- Người  Tày gọi con bò là “mò”, gọi bừa là “phưa”, gần giống tiếng Mường (là lưu ảnh của tiếng Việt cổ) nhưng có thể chính Tày đã mượn của Việt – Mường, vì so sánh thì Thái đen (ở vùng Tây Bắc VN, vốn từ Vân Nam thiên di xuống) gọi bò là “ngúa”, bừa là “ban”, có lẽ đó mới đúng là từ gốc Thái-Kadai.

5- Đặc biệt thú vị là vấn đề từ nguyên của cày/canh:

Từ “cày” trong tiếng Mường là “cằl” (theo từ điển Mường-Việt, Nguyễn Văn Khang chủ biên). Tiếng Việt không phát âm được phụ âm cuối -l nên ký âm “cằl” thường bị đọc ra “cằn”, nhưng xét cấu âm thì có lẽ “cằl” gần với “cănh” hay “canh” hơn, tức đọc gần giống từ Hán Việt “canh  耕” cũng có nghĩa là “cày” (Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt của GS Nguyễn Tài Cẩn cho biết có nhiều từ tiếng Việt có âm cuối -i, -y vốn gốc từ âm cuối -r, -l, -j tiếng tiền Việt-Mường). Nếu dựa theo các vết tích khảo cổ về nghề trồng lúa ở đồng bằng Bắc Bộ từ cả ngàn năm trước Công nguyên và hiện tượng là tiếng Việt không có từ nào khác thay thế cho “cày” cả thì phải mạnh dạn đặt giả thuyết cằl/cày là một từ mà tổ tiên Việt-Mường đã truyền lại từ thời xa xưa, trước thời kỳ Bắc Thuộc rất lâu, chứ không phải Việt-Mường mới đi mượn từ “canh” của Hán tộc sau khi bị đô hộ rồi đọc trại ra “cằl” rồi thành “cày”, và càng không phải là tiếp thu từ “thay” của nhóm Thái-Kadai.

Về nguồn gốc phương Nam của “canh”, “cằl”, “cày” tạm thời chưa bàn sâu vì vấn đề này dễ gây tranh cãi lạc đề. Tuy nhiên cũng phải nói thẳng ra rằng thời đại “Thần Nông”, ông tổ nghề trồng lúa, vốn cũng chỉ là truyền thuyết, chưa có cứ liệu khoa học chắc chắn nào chứng minh thị tộc Thần Nông là gốc Hán tộc ở Hoàng Hà, là gốc Khương ở Tứ Xuyên hay là gốc Bách Việt ở Trường Giang cả. Còn nếu đơn thuần căn cứ vào vị trí địa lý của lăng Viêm Đế thì lăng này ở huyện Viêm Lăng, tỉnh Hồ Nam, phía đông nam Hành Dương thị khá xa về phía nam của hồ Động Đình, lại nằm ngay trong vùng đất “Cổ Lạc Việt chi địa”, rất xa với vùng lưu vực Hoàng Hà, cội nguồn của Hán tộc. Vùng Tương Giang “Cổ Lạc Việt chi địa” này vốn là đất “man di”, mãi đến khoảng thế kỷ 3-4 trước CN mới bị nước Sở thôn tính, rồi sau đó nhập vào TQ thời Tần, Hán [8].


5.      Vài phân tích trên bảng thống kê:

1- Phân tích nhóm từ cổ Việt Hán có âm cuối -i :

Từ bảng phụ lục chúng tôi thử tách ra 1 bảng riêng gồm những từ cổ Việt Hán có âm cuối “-i” mà âm Hán Việt (Đường âm tức Trung cổ âm) và Hán Ngữ hiện đại  đã mất đi, hoặc ngược lại “i” chuyển thành nguyên âm chính:

Chữ Karlgren V.Lực Baxter Cổ Phiên thiết Hán Việt Pinyin
Việt Hán
g’ia giai grjaj cưỡi 渠羈切cừ ki thiết kị ji4
ŋia ŋiai ŋrjajs ngãi 宜寄切 nghi kí thiết nghĩa yi4
ŋwa ŋoai ŋʷrajʔ ngói 五寡切 ngũ quả thiết ngõa wa4
ŋɑ ŋai ŋaj ngài 五何切 ngũ hà thiết nga e2
pai pajs vãi 補過切 bổ quá thiết bo1,bo4
swɑ suai soj thoi 穌禾切 tô hòa thiết thoa xuo1
kia kiai krjajs gởi 居義切 cư nghĩa thiết ji4
mai maj mài 莫婆切 mạc bà thiết ma mo2
ma meai mraj mây(gai) 莫遐切 mạc hà thiết ma ma1
lai c-raj lưới,chài 魯何切 lỗ hà thiết la lo2, luo2
d’ɑ dai lajʔ lái 徒可切 đồ khả thiết đà duo4
kai kajs cái 古賀切 cổ hạ thiết ge4
tsɑ tsai tsajʔ trái 臧可切 tang khả thiết tả zuo3

 

Đặc biệt chú ý chữ la tức “lưới”, tiếng Mường đọc là “lải” còn khớp với âm thượng cổ Hán (lai) hơn cả tiếng Việt nữa ! Xem hình sau, lấy từ cuốn Từ điển Mường Việt , NXB VH Dân tộc, 2002:

Hơn nữa phục nguyên của Baxter là (c-raj) khá giống từ “chài” của tiếng Việt, là từ đồng nghĩa với “lưới”, có khả năng đó là âm tối cổ, cổ hơn cả âm lải/lưới !  Nhìn vào bảng thấy có sự nhất quán rõ ràng, 2 trong số 3 nhà ngôn ngữ học đã phục nguyên một âm có “-i” hay “-j” cuối vần, riêng Karlgren thì không, có lẽ do Karlgren chỉ phục nguyên tới một thời đại chưa xa lắm, còn Vương Lực và Baxter đã phục nguyên tới một thời đại rất xa xưa. Riêng Baxter đi xa nhất, có lẽ đã đạt tới thời Proto Tạng Hán, lúc đó hệ thống ngôn ngữ Tạng-Hán còn có rất nhiều tiền âm tiết và phụ âm kép, giống với (hay là chưa tách xa khỏi) các ngôn ngữ phương Nam.

Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt của N.T.Cẩn viết: “Ở trường hợp từ thuần Việt, tuổi của âm cuối *-i như vậy là rất cao, vì nó không những lên đến thời Việt Mường chung mà còn lên đến thời Proto Việt Chứt cách đây đã trên 3000 năm. Có thể có trường hợp -i còn có nguồn gốc xa hơn nữa …

Những ví dụ như thổi, mài, ngài (bướm tằm), cỡi, ngói vốn được quy vào vận bộ ca của tiếng Hán thượng cổ. Vận bộ này vào khoảng thời Kinh Thi vốn có âm cuối -*r, -*l hay là âm cuối -*j ? đó là một vấn đề đang gây tranh luận…”

 

5.2  Về nhóm biến âm cuối -g, -ʔ mà tiếng Việt biến ra âm cuối  -i

 Nhận xét: Nhiều trường hợp Kargren phục nguyên âm cuối  -g còn Baxter là -ʔ thì từ tiếng Việt cổ tương ứng thường có âm cuối -i :

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt Hán Việt pinyin
(Đường âm)
ke ̆g ke kreʔ cởi  giải jie3
tsi ̯e ̆g tsie tsjeʔ tía/tái tử zi3
tsi ̯əg tsiə tsjəʔ trai /đứa tử  zi3
k’i ̯əg khiə khjəʔ khởi khỉ qi3
slĕg ʃeai cCrejʔ rưới  sái  sa3
ȶi ̯ʊg tɕiu tjuʔ chổi trửu zhou3
xi ̯əg xiə xjəʔ hởi  hỉ  xi3
gi ̯əg ɣiə ɦjəʔ hỡi yi3
di ̯əg ʎiə ljəʔ thôi,rồi zi3
di ̯əg ʎiə ljəʔ lấy yi3

 

5.3  Về nhóm biến âm -g=>-i theo Karlgren mà tiếng Việt biến ra -ng

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt Hán Việt Pinyin
(Đường âm)
ȶi ̯əg tɕiə tjə chưng  chi  zhi1
xi ̯əg xiə xjəʔ hửng  hỉ  xi3
ȶi ̯əg tɕiə tjəʔ châng chỉ zhi3
(chân)
g’i ̯əg giə gjəs cúng kị ji4
gi ̯ug ɣiu wjəs cũng hựu you4
dzi ̯əg ziə zjəʔ dường  tự si4
di ̯əg ʎiə ljə dâng di yi2
mi ̯ug miok mjoks mồng vụ wu4
li ̯əg liə c-rjəʔ làng li3

 

Ở tiếng Việt một số âm cuối -g thời thượng cổ đã biến chuyển ra -ng, đây là những trường hợp khá “đặc dị”, khó nhận ra. Như chữ “hỉ” âm cổ có thể là “hửng” (trong từ hí hửng) phù hợp với phục nguyên âm Hán Thượng cổ theo Karlgren là “xi ̯əg” (đọc gần như hưâg=hửng) sau đó -g biến ra -i nên ta có “hưâi” ứng với chữ “hởi” (trong từ hồ hởi), sau đó lại du nhập thêm âm “hỉ” trong thời Bắc thuộc. Ví dụ khác là chữ “tự”  似  Karlgren phục nguyên âm thượng cổ “dzi ̯əg” khá gần với chữ “dường” của tiếng Việt, dạng rụng âm cuối “-ng” là “dựa” thì hiện nay không còn lưu, chỉ còn “tựa”; nhưng “tựa” với nghĩa động từ “tựa vào” thì vẫn còn giữ biến âm “dựa” trong tiếng Việt, nên có thể đoán thời xưa “dựa như” cũng có nghĩa là “tựa như” , “dường như”?

Chữ vụ, Karlgren phục nguyên mi ̯ug,  nếu chuyển -g=>-ŋ thì gần âm “mồng” tiếng Việt (vân mồng=mây mù), đồng thời tiếng Việt còn giữ cả âm trung gian là “mù”.

Khả năng một số chữ vần “-i” cổ xưa đọc là “-ưng” còn vết tích khá rõ ngay cả trong Hán Ngữ, chữ nghi  疑  có một nghĩa trùng với chữ ngưng  凝 , mà lại chung bộ phận biểu âm. Theo Karlgren âm thượng cổ của  疑  là ŋi ̯əg còn của  凝  là  ŋi ̯əŋ , như vậy có thể đã tồn tại 1 xu hướng biến âm (ít còn lưu tích ở Hán Ngữ), là -g thượng cổ chuyển thành -ŋ. Xu hướng này ở tiếng Việt có vẻ rõ rệt hơn, ví dụ chữ “vị  彙” người Việt vẫn quen đọc là “vựng”, âm này không hề có trong từ thư của TQ, phải chăng cũng do ảnh hưởng của xu hướng biến âm này ?

 

5.4 Phân tích nhóm từ cổ Việt có nguyên âm kép ia(iê)-ưa(ươ)-uô(ua)

–         Nhận xét thấy ở nhóm nguyên âm này có xu hướng chuyển âm kép thành âm đơn khi đi từ thượng cổ tới trung cổ (Đường âm).

–         Thành tố rụng đi thường là nguyên âm sau (bùa=> phù, bia=>bi, tựa=>tự)

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt Hán Việt pinyin
(Đườngâm)
b’ɑŋ baŋ baŋ buồng  phòng  fang2
b’ɑg bak baks buộc phọc fu4
b’i ̯wa ̆m biam bjom buồm phàm fan2
pi ̯wa ̆n pian pjans buôn phán fan4
mi ̯wa ̆n mian mjans muôn vạn wan4
g’i ̯wan giuan gʷrjen cuốn, quyển juan4
ȶi ̯uk tɕiok tjok đuốc chúc zhu2
ȡʻi ̯uk dʑiok Ljok chuộc thục shu2
b’i ̯u bio bjo bùa phù fu2
pi ̯wo pia pjaʔ búa  phủ  fu3
mi ̯ug miok mjoks mùa vụ wu4
gi ̯wo ɣiua wjaʔ mưa  yu3
ti ̯o tia trjas đũa  trứ zhu4
ȶi ̯u tɕio tjoʔ chúa chủ zhu3
dzi ̯əg ziə zjəʔ tựa,dựa tự si4
ki ̯o kia kjas cưa , cứa  cứ  jiu4
tsi ̯e ̆ŋ tsieŋ tsjeŋʔ giếng tỉnh jing3 
mi ̯e ̆n mien mjinʔ miệng vẫn  wen3
d’i ̯e ̆ŋ dieŋ lrjeŋ chiềng trình cheng2
lieŋ lyeŋ c-reŋ liêng linh ling2
ɕi ̯e ̆ŋ ɕieŋ hjeŋ tiếng thanh sheng1
d’ɑ dai daj đìa trì chi2
tsi ̯e ̆g tsie tsjeʔ tía tử zi3
b’ia biai brjaj bìa  bì  pi2
pi ̯e ̆g pie prje bia bi bei1
ȶi ̯e ̆g tɕie kje chia chi zhi1
liar lyai c-rejs lìa  li  li2 
ȶi ̯e ̆k tɕiek tjek chiếc chích zhi1
si ̯ag syak sjᴀk tiếc tích xi2
dzi ̯ag zyak zljᴀk tiệc tịch xi2
pi ̯ak piak pjak biếc  bích  bi4 
di ̯e ̆k ʎiuek wjek việc dịch yi4
ʂa ̆d ʃeat srets giết sát sha1
dʐʻi ̯aŋ dʒiaŋ dzrjaŋ giường sàng chuang2
ŋi ̯ak ŋiak ŋjak ngược nghịch ni4

 

5.5  Hiện tượng rụng âm cuối “-a”,“-o” ở các nguyên âm kép Hán ngữ cổ:

Trong tiến triển tiếng Hán từ thượng cổ qua trung cổ thấy có nhiều trường hợp để rụng “-a”, “-o” cuối các nguyên âm kép, xem bản sau :

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt Hán Việt pinyin
(Đường âm)
b’i ̯u bio bjo bùa phù fu2
pi ̯wo pia pjaʔ búa  phủ  fu3
mi ̯ug miok mjoks mùa vụ wu4
ti ̯o tia trjas đũa  trứ zhu4
ȶi ̯u tɕio tjoʔ chúa chủ zhu3
dzi ̯əg ziə zjəs chùa tự si4
dzi ̯əg ziə zjəʔ tựa,dựa tự si4
ki ̯o kia kjas cưa,cứa  cứ  jiu4
ʂi ̯o ʃia srja thưa shu1
  tʂʻi ̯o tʃhia tshrja xưa chu1
tsi ̯e ̆g tsie tsjeʔ tía tử zi3
tsi ̯əg tsiə tsjəʔ đứa tử  zi3
b’ia biai brjaj bìa  bì  pi2
pi ̯e ̆g pie prje bia bi bei1
ȶi ̯e ̆g tɕie kje chia chi zhi1
liar lyai c-rejs lìa  li  li2 
si ̯ag syak sjᴀk tiếc tích xi2
dzi ̯ag zyak zljᴀk tiệc tịch xi2
pi ̯ak piak pjak biếc  bích  bi4 
di ̯e ̆k ʎiuek wjek việc dịch yi4
d’i ̯o dia lrja chừa trừ chu2
ŋi ̯o ŋia ŋjaʔ ngừa ngự yu4
di ̯o ʎia lja thừa yu2

 

5.6 Về nhóm nguyên âm giữa vần -iê-,-ia- :

So với kết quả phục nguyên âm thượng cổ Hán thì thấy tiếng Việt còn giữ được nhiều nguyên âm kép -iê-, -ia- giữa vần trong khi âm Hán trung cổ (Đường âm) đã chuyển thành -i-:

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt Hán Việt Pinyin
(Đường âm)
lieŋ lyeŋ c-reŋ liêng linh ling2
tsi ̯e ̆ŋ tsieŋ tsjeŋʔ giếng tỉnh jing3 
ȶi ̯e ̆ŋ tɕieŋ tjeŋ giêng  chính  zheng1
d’i ̯e ̆ŋ dieŋ lrjeŋ chiềng trình cheng2
li ̯e ̆n lien c-rjin giềng lân lin2
si ̯ag syak sjᴀk tiếc tích xi2
ȶi ̯e ̆k tɕiek tjek chiếc  chích  zhi1
dzi ̯ag zyak zljᴀk tiệc tịch xi2
pi ̯ak piak pjak biếc  bích  bi4 
di ̯e ̆k ʎiuek wjek việc dịch yi4
siek syek slek thiếc  tích  xi2
ȶʻi ̯ag tɕhya thjᴀk thước  xích  chi3
ŋi ̯ak ŋiak ŋjak ngược nghịch ni4
ki ̯a ̆ŋ kyaŋ krjaŋs gương  kính  jing4

 

5.7 Về nhóm có tổ hợp phụ âm đầu c-r do Baxter phục nguyên

Chữ Hán Karlgren Vương Lực Baxter Cổ Việt Hán Việt Pinyin
(Đường âm)
li ̯əm liəm c-rjəm rậm lâm  lin2
/chùm 
lai c-raj lưới/ la  lo2, luo2
chài
luŋ loŋ b-roŋ lồng/ lung long2
c-roŋ? chuồng
lieŋ lyeŋ c-reŋ liêng/ linh ling2
chành
liar lyai c-rejs lìa,chẽ,rời li  li2 
lɑp lap c-rap chạp lạp la4
lɑŋ laŋ c-raŋ chàng  lang lang2
lwɑn luan c-rons chộn,rộn loạn luan4
li ̯əg liə c-rjəʔ làng, li3
chiềng
lɑm lam g-ram chàm lam lan2
li ̯e ̆n lien c-rjin giềng lân lin2

 

Đây là nhóm biến âm có lẽ là cực kỳ cổ, nếu không có công trình phục nguyên của Baxter cùng với sự phân tích thấu đáo thì khó nhận ra. Nhiều từ tiếng Việt có đến 2 biến âm ứng với hai giai đoạn lịch sử khác nhau, có thể cách xa nhau hàng ngàn năm nên cách dùng và ý nghĩa của các biến âm đó đã khác nhau khá nhiều đến nỗi chính người Việt cũng không nhận ra là chúng vốn cùng gốc, như chài và lưới, chữ chài có lẽ là dạng cổ hơn của lưới và mở rộng ý nghĩa hơn “lưới” (chài còn có nghĩa là nghề chài, nghề đánh cá…); hay lồng và chuồng, lồng thực chất là cái chuồng nhỏ, nhưng cách dùng đã rất khác nhau. Hay lìa (li) còn có âm cổ hơn là chẽ hay rẽ :

Ví dụ khác chiềng=>làng và chàng=>lang, có thể xét thêm ví dụ chàm=> lam, trường hợp này Baxter phục nguyên g-ram, nhưng dựa vào tiếng Việt mà xét có lẽ phục nguyên c-ram đúng hơn ?

 

5.8 Về biến đổi của phụ âm đầu:

Các biến đổi rõ nhất là :

–         B/P=>PH: như buồng=>phòng, bùa=> phù

–         M=>V: như mo=>vu, mùa=>vụ…

–         Đ/T=> TR/CH ; như đũa=>trứ , đuốc=>chúc

 

5.9 Thử phục nguyên riêng phần âm vần thượng cổ của bài Kinh Thi “Tiểu Mân chi thập”:

 

小旻之什
山有嘉卉、侯栗侯梅。
廢為殘賊、莫知其尤。

 

Tiểu Mân chi thập
Sơn hữu gia hủy
Hầu lật hầu MƠ (âm thượng cổ , âm trung cổ mai)
Phế vi tàn tặc
Mạc tri kì VƯƠ (âm thượng cổ wjə, âm trung cổ vưu).

Mai với vưu theo âm Trung cổ thì không gieo vần, nhưng có vần khi đọc theo âm thượng cổ, như vậy âm thượng cổ MƠ (mə) của chữ Mai mà Karlgren, Baxter và Vương Lực phục nguyên là rất cổ, có thể trước cả thời Kinh Thi rât lâu. Các chữ Mơ (cây Mai) và Mận (cây Lý) là các tên rất bình dân cho chị em phụ nữ người Việt thời xưa… nhất là các vùng quê.

 

6.      Vài ý sơ bộ kết luận

Các bảng tư liệu và các phân tích trên là bằng chứng ban đầu cho giả thuyết về việc có cuộc thiên di của một nhóm bộ lạc Thần Nông tới đồng bằng sông Hồng, hợp huyết với cư dân bản địa, lập lên nhà nước Văn Lang hơn bốn nghìn năm trước. Cuộc hòa nhập đã diễn ra hòa bình (phản ánh qua cuộc hôn nhân Lạc Long Quân-Âu Cơ). Nhóm Lạc Long Quân có thể không đông lắm nên về huyết thống dân Văn Lang có lẽ chủ yếu vẫn là dân bản địa, điều này thể hiện qua việc nhóm từ cơ bản của tiếng Việt vẫn thuộc ngữ hệ Mon-Khmer, và rất gần với tiếng Mường (các tác giả như Nguyễn Tài Cẩn … đều cho rằng tiếng Việt và Mường mới tách ra khoảng thế kỷ 8-9). Mà ngay những từ thượng cổ Việt Hán nêu trên có lẽ cũng nằm trong kho từ vựng của các nhóm tộc phương Nam ở vùng Trường Giang chứ không phải gốc từ Hán tộc phương Bắc, như các từ “giang= krông= sông” , “long= b-rong= rồng”, về sau mới hòa nhập vào tiếng Hán.

Những tư liệu từ bảng thống kê (còn đang tiếp tục bổ sung) cho thấy đó không phải không phải là cứ liệu lẻ tẻ, trùng lặp tình cờ, mà số lượng khá nhiều, và rất có hệ thống, đó lại là những từ khá cơ bản của tiếng Việt, và điểm đặc biệt là chúng khá gần với phục nguyên âm Thượng cổ Hán ngữ theo những nhà ngôn ngữ học có uy tín.

 

Phần phụ lục:

  1. Bảng so sánh tư liệu âm thượng cổ Hán Ngữ của các từ có thể là từ cổ Việt Hán:

Chữ Hán

Karlgren

Vương Lực

Baxter

Cổ

Việt Hán

Hán Việt

(Đường âm)

pinyin

Quảng Đông

Mân Nam

b’ɑŋ baŋ baŋ buồng phòng fang2 fong2 pong5,pang5

b’ɑg bak baks buộc phọc fu4 bok3 pak8

b’i ̯u bio bjo bùa phù fu2 fu4 pu2

b’i ̯wa ̆m biam bjom buồm phàm fan2 faan4 hoan7

mi ̯wa ̆n miuan mjonʔ muộn vãn wan3

pi ̯waŋ piaŋ pjaŋʔ buông phóng fang4

pi ̯wər piəi pjəj bay phi fei1 fei1 hui1, pe1

gwia ɣiuai wjaj bởi, vì vị wei2/4 wai4

pi ̯wa ̆n pian pjans buôn phán fan4 faan3 hoan5

pa ̆k peak prak bác ba4,bo2 baa3,baak3 peh4, pek4

pu ̆k peok prok bóc,róc bác bo1

pi ̯wo pia pjaʔ búa phủ fu3 fu2 pu2

b’i ̯og biô bjew bầu biều piao4 piu4 phio5

g’i ̯og giô grjaw cầu kiều qiao2 kiu4 kiau5,kio5

ka ̆n kean kren căn gian jian4 gaan1 kan1, kan2

ku ̆k keok krok góc giác jue2 gok3 kak4

kʊ̆g keuk kruks cốc giác jue2 gok3 kak4

kam keam kromʔ kém giảm jian3 gaam2 kiam2

ku ̆ŋ keoŋ kroŋ sông giang jiang1 gong1 kang1

ku ̆ŋ keoŋ kroŋ gồng,cõng giang kang2,gang1 gong1,kong1 kng1

ke ̆g ke kreʔ cởi giải jie3 gaai3 kai2

ka ̆d keat krets cả giá jia4 gaa3 ka3

kea kras gả giá jia4

g’o ̆g ɣeô grew keo giao jiao1 gaau1 ka1

ko ̆g keô krew kẻ, cổ giao jiao1 gaau1 kau1

ko ka kaʔ cổ

kan kean krans can gián jian4

g’ɑn ɣan ganʔ cạn/khan hạn han4

ka ̆p keap krep kép giáp jia1, ga2

g’ia giai grjaj cưỡi kị ji4

ki ̯o kia kjas cưa , cứa cứ jiu4

d’i ̯o dia lrja chừa trừ chu2

di ̯o ʎia lja thừa yu2

xiwet xyuet hwit tiết huyết xue4

si ̯e ̆t siet sjit dứt tất xi1

t’uŋ thoŋ hloŋʔ thùng dũng tong3

ki ̯æn keən krjən khăn cân jin1 gan1 kin1

ki ̯ap kiap kjap cướp kiếp jie2 gip3 kiap4

kat kat kat cắt,gọt cát ge got3 kat4

ki ̯ən kiən kjənʔ gìn? cẩn jin3 gan2 kin2

kwe ̆g koe kʷres quẻ quái gua4 gwaa3 koa3

g’i ̯ən giən gjənʔ gần cận jin4 gan6 kin7

kwək kuək kʷək quấc, quắc quốc guo2 gwok3 kok

mi ̯wo mia mja mo vu wu mou4 bu5

mi ̯ug miok mjoks mùa vụ wu4 mou6 bu7

 舞

mi ̯wo mia mjaʔ múa wu3

gi ̯wo ɣiua wjaʔ mưa yu3

mi ̯ug miok mjoks mù,móc,mồng vụ wu4 mou6 bu7
mi ̯wəd miət mjəts mùi vị wei4 mei6 boe7
mi ̯wəd miət mjəts mùi vị wei4 mei6 boe7

mwɑn muan mons mùng/màn mạn man2 maan6 ?

mɑg mak maks mả mộ mu4 mou6 bong7

məg mai mei2 mui4 boe5,m5,moai5,mui5

 磨

mai maj mài ma mo2

d’ɑ dai lajʔ lái đà duo4, tuo2

kai kajs cái ge4

mi ̯waŋ miaŋ mjaŋʔ mạng võng wang3 mong5 bong2, bang7

mi ̯e ̆n mien mjinʔ miệng vẫn wen3 man5 bun1,bun2

ma ̆ŋ meaŋ mraŋ măng manh meng2

mi ̯wən miən mjun mắng văn wen2 man4 bun5

li ̯əm liəm c-rjəm (bụi) rậm/chùm lâm lin2

ti ̯o tia trjas đũa trứ zhu4 zyu3,zyu6 tu7

d’u ̆k deok drok đục trọc zhuo2 zuk4 tak8,tok8

ȶi ̯uk tɕiok tjok đuốc chúc zhu2

ȶi ̯ɔ tɕya tjᴀʔ đỏ giả zhe3 ze2 ?

ti ̯wər tiuəi trjuj đuổi truy zhui1,dui1 zeoi1 tui1

ki ̯wæd kiuet kʷjits cuối quý ji4

si ̯wa ̆d siuat swjats tuổi tuế sui4 seoi3 soe3

te ̆ŋ teŋ treŋ đanh đinh ding1 ding1 teng1

te ̆ŋ teŋ treŋʔ đánh đả da3 daa1 taN2

pi ̯e ̆ŋ pieŋ pjeŋʔ bánh bính bing3 beng2 pan2

si ̯e ̆ŋ sieŋ sjeŋs tánh tính xing4 sing3 seng3

t’iər thyei thij thấy thê di2 tai2 ?

tək tək tək đác (nước) đắc de2 dak1 ?

d’ɑg dak daks trạc/đo đạc/độ du4,duo4

dzi ̯əg ziə zjəʔ tựa,dựa tự si4 ci5 ?

dzi ̯u ̆m ziuəm tìm tầm xun2, xin2 cam4 chhim5,sim7

ti ̯ʊŋ tiuəm k-ljuŋ đúng trúng zhong4 zung3 ?

ȶʻəm tɕhy thəmʔ chìm trầm chen2 cam4,sam2 sim2,tiam5,tim5

tiam tyam chấm điểm dian3 dim2 tiam2

ȶi ̯am tɕiam k-ljam xem chiêm

d’ʊg du luʔ lúa/gạo đạo dao2 dou6 tiu7,to7

dʐʻi ̯aŋ dʒiaŋ dzrjaŋ giường sàng chuang2 cong4 chhng5

si ̯wan siuan sjonʔ chọn tuyển xuan3 syun2 soan2

ȡʻi ̯uk dʑiok Ljok chuộc thục shu2 suk6 siok8

d’i ̯ʊŋ diuəm g-ljuŋ dòng/giống chủng zhong3 zung2 chiong2

tsi ̯e ̆g tsie tsjeʔ tía/tái tử zi3

tsi ̯əg tsiə tsjəʔ đứa/trai tử zi3

dz’i ̯əg dziə dzjəs chữ tự zi4

ti ̯o tia trjaʔ chứa trữ zhu3

ŋi ̯o ŋia ŋjaʔ ngừa ngự yu4

b’ia biai brjaj bìa pi2

b’ia biai brjajʔ phải bị bei4,bi1

pi ̯e ̆g pie prje bia bi bei1

ȶi ̯e ̆g tɕie kje chia,chẻ chi zhi1

pian pyan pen bên biên bian1

pi ̯e ̆n pien pjin bến tân bin

pied pyet pits bít bế bi4

liar lyai c-rejs lìa,chẽ,rời li li2 lei4 li5

lo la c-ra lò, lửa lu2 lou4 loD5

li ̯o lia c-rjaʔ lúa lữ lyu3 leoi5 ?

li ̯u lio c-rjoʔ lụa lyu3

lai c-raj lướichài la lo2, luo2 lo lo5

lɑp lap c-rap chạp lạp la4

li ̯aŋ liaŋ c-rjaŋ rường lương liang2 loeng4 liang5

luŋ loŋ c-roŋb-roŋ lồngchuồng lung long2

li ̯uŋ lioŋ b-rjoŋ rồng long long2 lung4 geng5,leng5

lian lyan c-rens rèn luyện lian4 lin6 lian7

ȶi ̯u tɕio tjos đúc chú zhu4

ȶi ̯ʊg tɕiu tjus chúc chú zhou4

ȶi ̯ʊg tɕiuk tjuks chú chúc zhou4

li ̯ək liək c-rjək sức lực li4 lik5 lat8

d’əg dək ləks đời đại dai4

dia dia ljaj rời di yi2

ni ̯ær niei nrjij nơi ni ni2

niər nyei nij lầy ni2

ȡi ̯əg ʑiə djə giờ thì shi2 si4 si5

ȡi ̯əg ʑiə djəʔ chợ thị shi4 si5 chhi7

dz’ək dzək dzək giặc tặc ze2 caak6 chek8,chhat8

pək pək pək bấc bắc bei3

d’ək dək dək đực đặc te4

ȵi ̯e ̆t ȵiet njit nhựt/ngày nhật ri4 jat6 jit8

ʔi ̯e ̆t iet ʔjit nhứt/nhất nhất yi1 jat1 ?

g’og ɣo^ gaw gào hào hao2 hou4 ho7

ŋi ̯əg ŋiə ŋjə ngờ nghi yi2 ji4 gi5

ŋwɑd ŋuat ŋʷats ngoài ngoại wai4 ngoi6 goa7

ŋia ŋiai ŋrjajs ngãi nghĩa yi4 ji6 gi7

ŋɔ ŋea ŋra ngà nha ya1 ngaa4 ga5
ŋɑ ŋai ŋaj ngài nga e2 ngai5

ŋwa ŋoai ŋʷrajʔ ngói ngõa wa3 ngaa5 hia7,oa2

g’əm ɣyəm gəm gậm/ngậm hàm han2 ham4 ham5,kam5

kia kiai krjajs gởi ji4

dz’əm dzəm dzum tằm tàm can2

ts’i ̯am tshia tshjem tăm tiêm qian2

ʂi ̯ær ʃiei srjij thầy shi1

ɕi ̯ær ɕiei hljij thây thi shi1

b’i ̯an bian bjen bằng bình ping2

ȶi ̯u tɕio tjoʔ chúa chủ zhu3

tʂʻi ̯o tʃhia tshrja xưa chu1

ʂi ̯o ʃia srja thưa,sưa shu1

si ̯u sio sjo tua tu xu1

mo ma wu2 mou4 bo5,bu5

mi ̯wa ̆n mian muôn vạn wan4 maan6 ban7

mi ̯wa ̆n miuan mjonʔ muộn vãn wan3

g’we ̆g ɣoek gʷreks gạch,vạch họa,hoạch hua4 wa6,wak6 hoa7

g’wɑk ɣuak wak vạc hoạch hua4 wok6 ?

g’wɑ ɣuai vạ họa huo4 wo5 ho7

gi ̯wa ̆n ɣiuan wjan vượn viên yuan2

di ̯ag ʎyak ljᴀk nách dịch ye4

g’wət ɣuət gut hột, hạt hạch he2 hat6 hat8,hut8

pai pajs vãi bo1,bo4

p’i ̯wa ̆d phiua phjots phổi phế fei4

d’ia diai djejs đai(đất đai) địa di4

d’ɑ dai daj đìa trì chi2 ci4 ti5

tsa ̆m tʃeam tsremʔ chém trảm zhan3 zaam2 cham2

lɑm lam g-ram chàm lam lan2

k’ər khyən khəj khơi/khui khai kai1 hoi1 khai1, khui1

k’i ̯əg khiə khjəʔ khởi khỉ qi3

ts’ieŋ tshye sreŋ xanh thanh qing1 ceng1 chheng1

ȶʻi ̯ʊg tɕhiu thjus thiu,thối chou4,xiu4 cau3 chhau3

dʐʻi ̯ʊg dʒiu dzrjiw rầu/dàu sầu chou2

slĕg ʃeai cCrejʔ rưới sái sa3

si ̯əg siə sjə tơ, xơ,sợi ti si1 si1 si1

swɑ suai soj thoi thoa,xoa xuo1 so1 so1

swɑ suai soj tơi toa,  soa suo1

ȶʻwia tɕhiuai thjoj thổi xuy chui1 ceoi3 chhui1

ȶi ̯ʊg tɕiu tjuʔ chổi trửu

kiweŋ kyueŋ kʷeŋ quanh quynh jiong1 gwing1 ?

g’i ̯wan giuan cuốn,cuộn quyển juan4,quan2 gyun4 kuan2

gi ̯waŋ ɣiuaŋ wjaŋʔ viếng vãng wang3

lieŋ lyeŋ c-reŋ liêng/trành linh ling2

ki ̯e ̆ŋ kieŋ krjeŋs kiêng kính jing4

tsi ̯e ̆ŋ tsieŋ tsjeŋʔ giếng tỉnh jing3 zeng2 cheng2

ȶi ̯e ̆ŋ tɕieŋ tjeŋ giêng chính zheng1

d’i ̯e ̆ŋ dieŋ lrjeŋ chiềng trình cheng2

li ̯e ̆n lien c-rjin giềng lân lin2

ɕi ̯e ̆ŋ ɕieŋ hjeŋ tiếng thanh sheng1

li ̯əg liə c-rjəʔ làng,chiềng li3

si ̯ag syak sjᴀk tiếc tích xi2 sik1 sek4

ȶi ̯e ̆k tɕiek tjek chiếc chích zhi1

dzi ̯ag zyak zljᴀk tiệc tịch xi2

pi ̯ak piak pjak biếc bích bi4 bik1 phek4

di ̯e ̆k ʎiuek wjek việc dịch yi4 jik6 ek8

siek syek slek thiếc tích xi2

ȶʻi ̯ag tɕhya thjᴀk thước xích chi3

ŋi ̯ak ŋiak ŋjak ngược nghịch ni4 ngaak6 gek8

ki ̯a ̆ŋ kyaŋ krjaŋs gương kính jing4 geng3 keng3,kiaN3

ȶi ̯əg tɕiə tjə chưng chi zhi1

gi ̯ug ɣiu wjəs cùng hựu you4

g’i ̯əg giə gjəs cúng/giỗ kị ji4

xi ̯əg xiə xjəʔ hửng,hởi hỉ xi3

di ̯əg ʎiə ljəʔ thôi,rồi zi3

di ̯əg ʎiə ljəʔ lấy yi3

gi ̯əg ɣiə ɦjəʔ hỡi yi3

ȶi ̯əg tɕiə tjəʔ chân, châng chỉ zhi3

mi ̯ær miei mrjəj mày mi mei2

dzi ̯əg ziə zjəʔ dường, tựa tự si4

gi ̯wər ɣiuəi wjəj vạy vi wei2

kap keap krap kép ? giáp jia3

ka ̆p keap krep kép, cặp giáp jia2

g’a ̆p ɣeap grep hẹp hiệp xia2

d’o ̆k deôk drewks chèo trạo zhao4

po ̆k peôk prewks beo báo bao4

d’i ̯og diô ɦtrjew triều trào chao2

t’iet thyet hlit sắt thiết tie3

tək tək tək được đắc de2

ŋi ̯wa ̆n ŋiuan ŋjon nguồn nguyên yuan2

k’ʊ̆g kheu khruʔ khéo xảo qiao3

di ̯ok ʎiôk rjawk thuốc dược yue4

g’æg ɣe grə xương hài hai2

di ̯əg ʎiə ljə lạ dị yi4

di ̯əg ʎiə ljəʔ rồi yi3

di ̯əg ʎiə ljəʔ lấy yi3

mi ̯at miat mjet mất diệt mie4

gi ̯wa ̆t ɣiuat wjat vớt việt yue4

g’wɑt ɣuat wat vượt việt yue4

tiər tyei tijʔ đáy để di3

t’wɑt thuat hlot lọt thoát tuo1

ȵi ̯ok ȵiôk njewk nhọc nhược ruo4

mʊg muk muks mạo mao4

g’o / ɣuo ɣa gaʔ cửa hộ hu4

tsɑ tsai tsajʔ trái tả zuo3

gi ̯ug ɣiu wjəʔ phải hữu yuo4

ȶi ̯e ̆ŋ tɕieŋ tjeŋ thẳng chính zheng4

lɑŋ laŋ c-raŋ chàng lang lang2

ni ̯aŋ niaŋ nrjaŋ nàng nương niang2

lwɑn luan c-rons chộn,rộn loạn luan4

g’æn ɣeən grənʔ hẹn hạn xian4

li ̯at liat c-rjet rét liệt lie4

lu lo c-ros lậu lou4

no na naʔ ná,nỏ nỗ nu3

ȵi ̯am ȵiam njomʔ nhuộm nhiễm ran3

slĕg ʃeai cCrejʔ rây sái sa3

d’ug dok loks lỗ (hổng) đậu dou4

g’i ̯əm giəm grjəm chim cầm qin2

li ̯at liat c-rjet rách liệt lie3

d’ɔ dea lra chè trà cha2

ȶi ̯ɔ tɕya tjᴀ che già zhe5
ʔo a ʔa ác ô wu1
thi ̯at thiat thrjet suốt/tuốt triệt che4
d’wən duən lun lợn đồn tun2
BỔ SUNG (MỚI)
gʹog ɣo^ gaw gào/gọi ? hiệu hao4

 

  1. Bảng 2, một số trường hợp từ cổ Hán Việt Hán có âm tách xa nhiều với âm Hán Thượng cổ, có thể lầm là các biến âm của riêng tiếng Việt, mới hình thành sau khi Việt Nam giành lại độc lập chứ không phải âm thượng cổ, nên cần xem xét thận trọng:

 

Chữ Hán

Karlgren

Vương Lực

Baxter

Cổ Việt

 

Hán Việt

(Đường âm)

pinyin

Quảng Đông

Mân Nam

d’uŋ doŋ doŋ tròng đồng tong2

d’o da da trò đồ tu2

tsi ̯əg tsiə tsjəʔ trai(hay đứa ?) tử zi3

swɑn suan sons tính toán suan4

ʂa ̆d ʃeat srets giết sát sha1 saat3 sat4

g’æg ɣe grəʔ sợ hãi hai4 haai5 hai5

ŋa ̆ŋ ŋeaŋ ŋraŋs cứng ngạnh ying4

po pa pas vải bố bu4

ki ̯wa ̆m kiam kjams gươm kiếm jian4

mi ̯e ̆ŋ mieŋ mrjeŋs mạng mệnh ming5

kɑn kan kans khiên can gan1

ki ̯aŋ kiaŋ kjaŋ gừng khương jiang1

d’ieŋ dyeŋ deŋ dừng đình ting2

g’i ̯ʊg giu gjuʔ cậu cữu jiu4

lɑn lan c-ranʔ lười lãn lan3

d’əg dəʔ chờ đãi dai4

g’i ̯əp giəp grjəp kịp cập ji2

ki ̯wər kiuəi kjuj về quy gui1

si ̯ɔ sya sjᴀʔ rửa tả xie4

ʂe ̆ŋ ʃeŋ sreŋ sống sanh sheng1

si ̯an sian sjen tươi tiên xian1

swɑn suan sons tỏi toán suan4

lɑn lan c-ranʔ lười lãn lan3

ŋɑ ŋai ŋaj ngan nga e2

ʃeai srej rây si shai1

 

 

Tài liệu tham khảo:

  1. 中国音韵学研究( 高本汉 法语原著)Bernhard Karlgren Etudes Sur La Phonologie Chinoise (Stockholm 1915 – Gotembourg 1926). Bản PDF.
  2. 汉文典 、  高本汉、  上海辭書出本社。 1997。
  3. 中上古汉语音的纲要、 高本汉、 齐鲁书社、 济南。 1987
  4. The Austroasiatics in Ancient South China, 梅祖麟言语学论文集。 商务印书馆出本。2000。
  5. Trung nguyên âm vận (Chu Đức Thanh, 1324, bản scan không có thông tin  năm in lại)
  6. “A Handbook of Old Chinese Phonology” GS William Baxter (1992, New York, Berlin).
  7. 王力《漢語詩律學》,(上海:中國上海世紀出版集團,上海教育出版社,2005年
  8. . 古 漢 語 字典,Vương Lực “Cổ Hán ngữ tự điển”.
  9. “從原始漢藏語到上古漢語-以及原始藏緬語的韻母演變” . 龔煌城Cung Hoàng Thành 中央研究院 , 第㆔屆國際漢學會議論文集語言組 2003.

10. 中国少数民族语言 Trung Quốc thiểu số dân tộc ngữ ngôn, Tứ Xuyên Dân tộc Xuất bản xã. 1987. Bản điện tử (PDF).

11. 中国少数民族语言Trung Quốc thiểu số dân tộc văn tự. 1991, không có thông tin NXB và tác giả vì không có trang bìa. Bản điện tử (PDF).

12. Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nguyễn Tài Cẩn, NXB Giáo Dục, Hà Nội. 1995

13. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nguyễn Tài Cẩn. NXB Đại học Quốc gia , Hà Nội. 2000

14. Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Hoàng Thị Ngọ. NXB KHXH, Hà Nội, 1999.

15. “Thử tìm hiểu từ nguyên một số cặp từ Việt Hán” , PHAN ANH DŨNG, Bài viết tham gia hội thảo nhân một năm ngày mất GS Nguyễn Tài Cẩn, Hà Nội, 4-2012.

 

 


[1] Bài đã gởi Hội thảo quốc tế “Ngôn ngữ học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập”, tháng 5/2013 tại Hà Nội.

[2] Sau hội thảo GS Shimizu Masaaki ở Đại học Osaka Nhật có gởi cho người viết bài này một bài báo nghiên cứu về các yếu tổ di truyền của cây lúa, mà kết luận là vùng trung lưu Châu giang ở Quảng Tây-Quảng Đông chính là quê hương của nền văn minh lúa nước, là nơi phát nguyên giống lúa trồng phổ biến trên thế giới ngày nay. ( “A map of rice genome variation reveals the origin of cultivated rice” , Xuehui Huang, Nori Kurata … 25 October 2012 , vol l490, Nature, 499.)

[3] Biến âm của âm cuối –j thành  –t trong tiếng Việt còn thấy lưu tích ở cách đọc tên bộ kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajna Paramita, Praj đã được phiên âm thành bát như vậy âm cuối –j đọc thành –t ), nguyên chữ Hán viết  般若  đáng lý phải đọc Ban nhã, nhưng người Việt nhất loạt đọc thành Bát nhã. Ngoài ra người Việt vẫn còn giữ được âm “đai” trong từ “đất đai” thể hiện sự có mặt của âm cuối –j thời thượng cổ, đai cũng có nghĩa là đất.

[4] Bernhard Karlgren (15 October 1889, Jönköping – 20 October 1978) nhà ngôn ngữ học Thụy Điển nổi tiếng với các công trình nghiên cứu cổ Hán Ngữ.

[5] William H. Baxter, nhà ngôn ngữ học đương đại người Mỹ.

[6]王力(10/8/1900-3/5/1986) nguyên  là “Trung Quốc Ngữ ngôn học hội danh dự Hội trưởng”.

[7] Con số 3500 năm này người viết nhận được qua trao đổi với Giáo sư ngôn ngữ học Hoàng Dũng.

[8] Các đoạn chữ màu tím là tác giả mới bổ sung, không có trong bài gởi Hội thảo ngôn ngữ học QT tháng 5/2013 ở Hà Nội.

 

(Visited 592 times, 1 visits today)