Sử địa

Nghĩa gốc của chữ Hán lang 郎 vốn là làng

(Bài gốc đăng trên Văn hóa Nghệ An: http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/nghia-goc-cua-chu-han-lang-von-la-lang )
Nhân đọc bài của sư Thích Viên Như về nguồn gốc từ “quê hương”:

https://nghiencuulichsu.com/2018/02/05/nguon-goc-hai-tu-que-huong/

Người viết không rành về Dịch học lắm nên chỉ xin bàn về khía cạnh ngữ âm lịch sử và chữ viết:

Người viết từng để ý từ gần chục năm trước một hiện tượng “hơi lạ” là trong cấu tạo chữ Hán “Hương 鄉” lại có chứa chữ Lang 郎 tức là “làng” của tiếng Việt. Nếu dựa vào nghĩa của chữ lang 郎 trong tiếng Hán là “chức quan” hay “anh chàng” thì không lý giải được việc xuất hiện chữ lang 郎 trong thành phần cấu tạo chữ hương 鄉 (nghĩa là làng, quê).

Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu chú về chữ Lang như sau:

郎 Lang

(1): Chức quan. Về đời nhà Tần nhà Hán thì các quan về hạng lang đều là sung vào quan túc vệ, về đời sau mới dùng để gọi các quan ngoài, như: thượng thư lang 尚書郎, thị lang 侍郎 v.v… Ở bên ta thì các quan cai trị thổ mán đều gọi là quan lang.

(2): Chàng, một tiếng gọi về bên con trai, là cái danh hiệu tốt đẹp.

(3): Anh, chàng, vợ gọi chồng là lang.

Nhưng nếu đặt giả thuyết có vẻ “ngược đời” cho rằng chữ này vốn của nhóm người gốc Bách Việt tạo ra thì lại thấy ý nghĩa thật rõ ràng, “郎” là “làng” của người Việt. chính là thành phần chỉ nghĩa (làng, quê) của chữ hương 鄉.

Tra cứu kỹ hơn ở các từ thư cổ thì thấy chữ lang 郎 sách Thuyết văn Giải tự của Hứa Thuận (許慎, khoảng năm 58-147, thời Đông Hán) chú nghĩa chính là “魯亭也” (Lỗ đình dã – Đình của nước Lỗ). Do chữ lang có bộ ấp 邑 nên “đình” ở đây chắc không phải “cái đình” mà chỉ một địa khu tầm cỡ làng, vì Tự điển Hán Việt Thiều Chửu có chú một nghĩa của chữ đình 亭 như sau : phép nhà Hán chia đất cứ 10 dặm là 1 đình, 10 đình là 1 làng, nên người coi việc làng gọi là đình trưởng 亭長 tức như lý trưởng bây giờ. Nghĩa này của chữ lang 郎 gần như trùng với nghĩa “làng” của tiếng Việt còn nghĩa trong tiếng Hán là “chức quan” hay “anh chàng” không liên quan gì đến sự xuất hiện của bộ ấp 邑 cả, các nghĩa đó vốn chỉ là chữ giả tá mượn âm của chữ gốc “lang=làng” mà thôi.

Phải chăng vì nghĩa gốc của lang 郎 vốn là “làng” của người Việt nên đã bị đào thải trong Hán ngữ (lý do thì tự nhiên thôi, người đọc chắc đều hiểu).

Nói thêm là nghĩa “làng” cũng có liên quan tới cái “đình 亭”, văn hóa cổ truyền của người Việt từ hàng nghìn năm nay vẫn coi cái đình làng chính là đại biểu của làng, một vùng đất nếu đã gọi làng thì không thể thiếu cái cái đình, nếu vì chiến tranh hay thiên tai mà đình làng bị hủy hoại thì trước sau cũng phải tính việc dựng lại.

Lưu ý chữ Nôm “làng” không viết bằng chữ lang 郞 mà dùng chữ lang khác 廊, tuy nhiên Khang Hy Tự điển chú rằng chữ 廊 đó cũng có thể viết là lang 郞.

又通作郞。《前漢•董仲舒傳》蓋聞唐虞之時,遊於巖郞之上 . 《註》晉灼曰:堂邊廡。巖郞,謂嚴峻之郞也。

hựu thông tác lang. [Tiền Hán • Đổng Trọng Thư truyện] cái văn Đường-Ngu chi thì, du ư nham lang chi thượng. [Chú] Tấn Chước viết: đường biên vũ. Nham lang: vị nghiêm tuấn chi lang dã. (Dịch thoát ý: Từng nghe thời vua Đường Ngu đi chơi trên nham lang. Tấn Chước ghi chú rằng đó là hàng lang bên nhà. Nham lang là cái hành lang cao nghiêm)

Nham lang 巖廊 theo Tự điển Hán Việt Thiều Chửu là “mái hiên cao”, tại sao vua Nghiêu-Thuấn (Đường Ngu[1]) lại trèo lên mái hiên cao mà chơi ? Người viết đồ rằng Tấn Chước (học giả đời Tấn) có lẽ đã giải thích sai vì không còn biết (hay cố tình xuyên tạc) nghĩa cổ của người Việt “lang 廊/郞” là làng chứ không phải cái “hành lang” bên tường nhà, “nham lang” là làng ở chỗ núi cao, trèo lên núi cao chơi thì hợp với câu “nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy” (người nhân chơi nơi núi non, người trí chơi miền sông nước) … chứ cái hành lang thì quá nhỏ bé tầm thường đối với vua Nghiêu-Thuấn !

Nếu cách giải thích chữ lang 郎 trong cấu tạo chữ hương 鄉 vốn nghĩa là “làng” của người Việt ở trên là đúng, thì lại nảy ra vấn đề là: Vì sao “đình” (một phần làng) của người nước Lỗ lại gọi là “lang/làng” giống với tiếng Việt của chúng ta? Có phải đó là sự đồng âm tình cờ mà người viết cố tình “nhận vơ” không, hay phải chăng người nước Lỗ vốn không phải Hán tộc chính gốc? Lưu ý khu vực nước Lỗ ở Sơn Đông thời xưa bị coi là đất Đông Di (nghĩa là man di phía Đông), sau này vua nhà Chu phân phong con cháu đến cai trị (là Cơ Bá Cầm, con trai của Chu Công Cơ Đán), nên sau đó sách vở Trung Quốc cứ “lải nhải” luận điệu rằng “nước Lỗ là dòng dõi nhà Chu”, nhưng thực ra có lẽ đó chỉ là tầng lớp cai trị thôi, chứ dân cư đến thời Khổng Tử cũng chưa chắc đã Hán hóa 100%.

Việc nghĩa gốc của chữ lang 郎 vốn là làng mà sách Thuyết Văn Giải tự đã ghi chép được có thể là đầu mối quý giá để xem xét ý nghĩa của tên nước Văn Lang 文郎 của người Việt thời Hùng Vương, hay tên nước Dạ Lang 夜郎 cổ ở vùng Quý Châu (Trung Quốc). Do sử Trung Quốc chỉ có ghi chép về “Dạ Lang Quốc” mà không có nước “Văn Lang” nên có thuyết cho rằng các sử gia Việt “ăn cắp” cái tên “Dạ Lang” mà ngụy tạo thành tên “Văn Lang”, nhưng việc nghĩa gốc của chữ lang 郎 chính là làng của tiếng Việt lại cho thấy cách giải thích làm bộ như “khoa học, nghiêm túc”, tránh các tư tưởng “dân tộc chủ nghĩa cực đoan” đó thật ra lại có màu sắc định kiến khá nặng !
Nói thêm về di chỉ Khả Lạc mới phát hiện ở Trung Quốc gần đây:

https://baike.baidu.com/item/可乐遗址

Di chỉ Khả Lạc 可乐 (âm pinyin: KELE một âm pinyin khác của chữ lạc 乐/樂 là yue4 đồng âm với chữ Việt 越/粵) được các học giả Trung Quốc nhận định là quốc đô của nước Dạ Lang cổ, có điều lạ là âm đọc hai chữ này hơi giống tên Khả Lũ tức Cổ Loa của người Việt (tức là Kẻ Chủ, Kẻ Chúa theo giải thích của Giáo sư Trần Trí Dõi), theo người viết thì nên tìm hiểu thêm về vấn đề này chứ có lẽ đây không phải sự giống nhau tình cờ ?

Tra trong Kinh Thi là tuyển tập thơ ca dân gian lớn của Trung Quốc nửa đầu thời Chu không thấy xuất hiện các chữ đình 亭, đình 停, lang 郎, lang 廊, trong khi chúng là các từ khá phổ thông trong Hán ngữ hiện đại. Tất nhiên chưa thể  căn cứ vào đó để bảo rằng thời Chu chưa có các chữ đó, mà chỉ có thể nói rằng thời đó chúng chưa phổ biến, có thể giải thích rằng đó là các từ gốc Bách Việt, mà Hán tộc vào thời đó vẫn còn quanh quẩn khu vực Hoàng Hà, chưa đặt được quyền thống trị lên vùng Trường Giang và Nam Trường Giang của nhóm Bách Việt, nên các từ ngữ gốc Bách Việt khi đó dẫu đã có mặt thì cũng chưa phổ biến trong Hán ngữ.

Người đọc có thể tham khảo thêm bài cùng chủ đề:
http://www.vanhoanghean.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/kha-nang-chu-da-han-co-nguon-goc-nam-a

[1] Ghi chú: Đường Ngu tức là vua Nghiêu (họ Đào Đường) và vua Thuấn (họ Hữu Ngu).

Lại bàn về nguồn gốc người Việt

Trích chủ đề “Người Việt; Bách Việt Tiên Hiền Chí”
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,29092,65769,page=2#msg-65769
Posted by: fanzung
Date: July 05, 2014 01:25PM

<Quote>:

Tích DãThế kỉ 15 trở đi người Việt Nam từ
Lạng Sơn đến Cà Mau thì lịch sử đã
rõ ràng thì không bàn làm gì. Chữ 越
người miền Bắc đọc là ‘việt’,
người miền Nam đọc là ‘diệt’ thì cũng
chẳng liên hệ gì với từ ‘rìu’, ‘búa’
là từ gốc Việt so với gốc Hán-Việt
là ‘việt/diệt’ hay âm đọc Quảng Đông
là ‘jyut’, âm đọc Bắc Kinh là ‘yue’. Há
chẳng phải ư?

Chuyện nguồn gốc Bách Việt di cư
xuống thì rất mù mịt, ngoài việc cùng
gọi là người Việt (越). Như dòng họ
nhà tôi đây, chỉ biết từ thế kỉ 13
có gốc ở miền Bắc xuống xứ Nghệ
phát triển đến nay, về trước thì mù
tịt. Nói chi đến sâu xa hơn ở tẩn
đâu? Còn như chuyện họ Hồng Bàng, họ
Thục đã xưa lắm rồi, họ có từ phía
bắc xuống thì cũng chỉ là một dòng
họ nào đó thôi, cũng như một số dòng
họ như họ Hồ, họ Võ từ thời Bắc
thuộc, nhưng không phải là phần nhiều.
Chỉ dựa vào đấy mà bảo người Kinh
(Việt Nam) ngày nay có gốc Bách Việt thì
thật là vô lí. Trong khi sách cổ đã xác
nhận có người Lạc bản địa từ
trước thời Bắc thuộc.

</Quote>

Tích Dã tiên sinh giải thích ra sao về cứ liệu khảo cổ ở khu mộ cổ Mán Bạc có cả xương cốt chủng người châu Á (Mongoloid) và chủng người Đa Đảo phương Nam (Australoid) :
[www.bbc.co.uk]

Khu mộ Mán Bạc có niên đại khoảng 3800 năm trước, giả định nếu nhóm Mongoloid “Nam tiến” khoảng vài trăm năm trước đó thì phù hợp khá tốt với truyền thuyết Lạc Long Quân-Hùng Vương hơn 4000 năm của người Việt.

Bài thơ Tặng Cao Li sứ của Nguyễn Huy Oánh mà tiên sinh dịch
“…
Thành Thang quân viễn tổ,
Viêm Đế ngã gia tiên…”
Xem ra lại đúng với cứ liệu khảo cổ trên, Thành Thang 1766 TCN-1761TCN tức khoảng 3800 năm trước, lúc đó thì nhóm chủng Mongoloid đã có mặt ở Bắc Việt rồi nên dân Việt đâu có thèm nhận Thành Thang là viễn tổ, mà nhận xa hơn 1000 năm nữa tới tận thời Viêm Đế-Thần Nông.

Ngoài ra nếu cứ theo sách Tàu thì nhóm thị tộc Thần Nông cùng gốc với nhóm Hán Tộc Hoàng Hà … nhưng Tích tiên sinh đã có chứng cứ khoa học (ví dụ ADN) nào chưa ngoài trùng điệp sử Tàu mà nhóm tiên sinh đưa lên diễn đàn này ?
Cứ liệu ngôn ngữ thì lại cho thấy chữ Giang 江 vốn có bộ phận biểu âm là chữ Công 工, âm thượng cổ theo nhà ngôn ngữ học Baxter phục nguyên là kroŋ , nhiều tác giả nhận định có nguồn gốc ở từ “sông” của phương Nam (Krông ở Tây Nguyên, Không ở người Mường…) đối lập với từ “hà” của nhóm Hán tộc gốc Hoàng Hà. Từ địa 地 âm thượng cổ theo Baxter phục nguyên là djejs rất gần với tiếng Khmer “đây” nghĩa là đất và tiếng Việt “đai” cũng là đất (còn lưu tích rõ trong từ kép “đất đai”), đối lập với từ “thổ” của nhóm Hán tộc sống trên vùng đất hoàng thổ, sông Hoàng .v.v.
Mà vùng trung lưu Trường Giang có Hồ Bắc là đất sinh Viêm Đế, Hồ Nam là nơi có lăng Viêm Đế, do đó nếu nhận định Viêm Đế – Thần Nông Thị vốn là một nhóm tộc gốc phương Nam hay chịu ảnh hưởng của phương Nam thì đâu phải vô lý ?

Đâu phải vị vua nào các chú Tàu nhận là vua của mình cũng là dân Hán gốc, như vua Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn (họ Thiết Mộc Chân) với vua Thanh (họ Ái Tân Giác La) không phải là những chứng cứ hùng hồn sao ? Cái thuyết “nhận xằng” có lẽ lên áp dụng cho các chú Tàu đúng hơn là dân Việt (xem ghi chú 2).

Về nguồn gốc từ “Việt” thì sử Tàu đã đề cập đến chuyện nước Việt Thường dâng rùa trên lưng có chữ từ thời vua Nghiêu (xem ghi chú 1), xa hơn ngàn rưởi năm trước nước Việt của Câu Tiễn, và nước Việt Thường ít ra cũng tồn tại hơn ngàn năm để đến đời Chu Thành Vương lại tiếp tục đến dâng chim trĩ. Xem vậy không phải người Việt (Kinh) thèm cái danh Bá của Câu Tiễn mà ăn trộm cái tên “Việt” đâu.

***
Ghi chú 1:
《通志》(宋•鄭樵[1104年-1162年]撰)又按陶唐之世,越裳國獻神龜,蓋千歲,方三尺餘,背有科斗文記開闢以來,堯命錄之,謂之龜歴。
《Thông Chí 》(Tống •Trịnh Tiều [1104-1162]soạn) Hựu án Đào Đường chi thế, Việt thường quốc hiến thần quy, cái thiên tuế, phương tam xích dư, bối hữu khoa đẩu văn kí khai tịch dĩ lai, Nghiêu mạng lục chi, vị chi Quy Lịch.
(Lại xét đời Đào Đường, nước Việt Thường dâng con rùa thần, phải đến hơn nghìn năm tuổi, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy Lịch tức Lịch rùa)

***
Ghi chú 2:
Dân Việt có đạo thờ tổ tiên rất nghiêm cẩn, khó có chuyện bưng một thằng ngoại tộc đặt lên bàn thờ.
***

Năm Ngọ nói chuyện từ nguyên của Ngựa

Vài ý kiến tải mạn về con ngựa trong nền văn hóa Việt Nam và nguồn gốc từ ngựa trong tiếng Việt

Trước tiên phải thấy rằng Ngựa là giống vật gốc gác từ các vùng thảo nguyên phương Bắc, nhưng xét thuần túy về mặt ngôn ngữ thì ít có khả năng từ “ngựa” đến  từ nhóm ngôn ngữ Hán-Tạng hay Thái Kadai, vì tiếng Tày và Thái Tây Bắc VN là hai nhóm Thái-Kadai lớn nhất có địa bàn cư trú tiếp giáp với người Việt đều gọi ngựa là “mạ” (người Thái VN vốn gốc từ Vân Nam xuống), nếu không kể thanh điệu thì “mạ” trùng hoàn toàn với con “mã” của nhóm Hán-Tạng, trong khi đó tiếng Việt lại đứng tách riêng hẳn thành 1 nhóm với từ “ngựa”.  Người Việt vẫn hiểu từ “mã” của nhóm Hán-Tạng, ví dụ trong bộ bài Tam Cúc “tướng-sĩ-tượng-xe-pháo-mã-tốt” mà trẻ con cũng thuộc làu, nhưng từ “mã” không thay thế và lấn át được từ “ngựa”, từ “ngựa” vẫn đứng vững trong tiếng Việt trước các áp lực bủa vây khắp các phía là: áp lực đồng hóa của tiếng Hán từ phương Bắc trong trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, sự ảnh hưởng của nhóm Tày -Thái từ phía Bắc, phía Tây và Tây Bắc, và khả năng “tập kích” từ phương Nam của tiếng Chăm (Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo, gọi con ngựa là “asaih”, khác hẳn tiếng Việt) …. đây là những điều cần suy nghĩ (!)
Do chưa tìm thấy răng ngựa trong các di chỉ văn hóa trước thế kỷ 2 trước công nguyên, trong khi con ngựa đã có mặt trên trống đồng Đông Sơn ngay thời đó (thời Tây Âu tức Âu Lạc của An Dương Vương), nên có thuyết cho rằng con ngựa mới du nhập vào VN từ thời An Dương Vương theo đường từ Vân Nam qua thung lũng sông Hồng. Nhưng khoảng thời gian vài chục năm cuộc “nam tiến” của nhóm An Dương Vương – Tây Âu (nhiều tác giả cho là nhóm này có gốc Thái-Kadai) khoảng thế kỷ 2 trước CN có lẽ chưa đủ dài để con ngựa từ một giống vật ngoại lai xa lạ trở thành một linh vật trên đồ đồng Đông Sơn ngay lập tức khi đó. Cũng có thể giả thuyết người Tây Âu (Tây Vu) đã có mặt ở đồng bằng Sông Hồng trước đó nhiều thế kỷ nữa, đến thời An Dương Vương thì đã đủ đông và mạnh để nắm quyền chỉ đạo thay cho nhóm dân cư cũ tức nhóm “Hùng Vương” trong sử Việt. Vả lại biên giới phía bắc của VN hiện nay mới định hình tương đối từ thời Đinh-Tiền Lê, nó không phải là mốc giới hạn cho sự giao lưu văn hóa – ngôn ngữ hơn 2 ngàn năm trước, lúc người Hán chưa tới thống trị vùng “văn hóa trống đồng” (hay có thể tạm gọi là văn hóa Lạc Việt).

Cho đến này nay ngựa vẫn là giống vật nuôi rất hiếm thấy ở các vùng đồng bằng VN, nhưng sự hiếm có này cũng như việc chưa tìm thấy răng ngựa ở các di chỉ khảo cổ VN với niên đại trước thế kỷ 2 TCN có vẻ không tương xứng với tầm vóc văn hóa mà con ngựa có trong nền văn hóa VN, chẳng hạn truyền thuyết Thánh Gióng đã đề cập đến ngựa sắt từ thời Hùng Vương thứ 6, ngang với thời nhà Ân ở Trung Quốc?

 

Một số cứ liệu ngôn ngữ, lịch sử :

1. Các từ song tiết chỉ con ngựa như bà-ngựa trong tiếng Việt, hay ma-ngơ trong một số ngôn ngữ họ hàng của tiếng Việt cho thấy khả năng “ngựa” là một từ gốc Mon-Khmer chứ không phải từ ngoại lai mượn của nhóm Miêu-Dao, Hán-Tạng hay Thái-Kadai.
 Thơ quốc âm Nguyễn Trãi:
“Con đòi trốn, dường ai quyến.
Bà-ngựa gầy, thiếu kẻ chăn”.
2. Bản đồ các nền văn hóa cổ thời đồ đá mới ở Trung Quốc có ghi về văn hóa Lý Gia Thôn (khoảng 7000 năm trước) như sau:
- Về khu vực ghi là trải dài từ Tần Lăng (Thiểm Tây) về phía Nam xuống đến nam Vân-Quý (Vân Nam-Quý Châu), tức là tiếp giáp tới miền Bắc Việt Nam.
- Về nhân quần ghi là “Mạnh Cao Miên tộc quần hướng Tạng Miến tộc quần quá độ đích nhân quần” tức gốc ban đẩu là Mon-Khmer sau chuyển hóa thành Tạng Miến. Halogroup là O2-O3 [B].
Nếu thông tin này là đúng thì nhóm Môn-Khmer đã từng có mặt ở tận Thiểm Tây, trong lưu vực Hoàng Hà, nên không thể bảo rằng vì Môn-Khmer ở phương Nam nên không hề biết đến con ngựa của phương Bắc, và không có từ riêng của họ để chỉ con ngựa.
3. Mở cuốn “Đồng-Thái ngôn ngữ dữ văn hóa” (Lý Cẩm Phương, Dân tộc xuất bản xã, Bắc Kinh – 2002) có đoạn viết về từ ngựa (mã 馬/马) trong nhóm Đồng-Thái, xem hình:

https://dl.dropboxusercontent.com/s/2h0g3wejmh7g41k/image002.gif?dl=0

Đọc thông tin trên thấy các nhóm Thái-Kadai chính (trong đó tộc Choang là lớn nhất) đều gọi ngựa là “Mạ”, giống với tiếng Hán, nhưng vẫn có một số nhóm gọi khác, ví dụ:

Ba Cáp và Lang Giá gọi ngựa là “nga”, Hạn Lạp Cáp đọc là “ihɛ”, người Lê ở Hải Nam gọi là “ka” .

Tra trên bản đồ Google thì Lang Giá 郎架  ở Quý Châu, còn Ba Cáp 巴哈 ở phía bắc tỉnh Quảng Tây, sát gần địa giới tỉnh Quý Châu chứ không gần biên giới Việt Nam, cả hai vùng này đều khá xa với vùng đồng bằng sông Hồng vốn được coi là đất bản bộ của người Việt, vậy mà lại gọi con ngựa là “nga” rất giống người Việt !  Vậy đâu là lời giải thích ? [C]
4. Truyền thuyết về gốc gác người Việt ở vùng hồ Động Đình “nam tiến” tới vùng đồng bằng sông Hồng cho đến nay chưa có các cứ liệu nghiên cứu khoa học chứng minh rõ ràng [xem ghi chú A] . Nhưng ngược lại, cũng chưa có chứng minh nào có thể nói là tuyệt đối chính xác rằng: Truyền thuyết về thời đại Hồng Bàng (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương…) ghi trong sử Việt (cụ thể là Đại Việt sử ký Toàn thư) là do bọn “hủ nho” Việt “ăn cắp” mấy truyện  truyền kỳ vớ vẩn trong sách Tàu ghi vào chính sử.  Nếu truyền thuyết này có phần nào sự thật thì nó có thể là lời giải thích cho thắc mắc ở đoạn trên chăng ?
==
Ghi chú
[A]:
Cứ liệu khảo cổ về khu mộ Mán Bạc (niên đại khoảng 3800 năm trước ở Yên Mô, Ninh Bình) có cả xương cốt loại hình Mongoloid (phương Bắc) lẫn loại hình Australoid (phương Nam), nhưng có thể có cách giải thích khác chứ không liên quan gì tới cuộc nam tiến của nhóm thị tộc Lạc Long Quân từ hồ Động Đình xuống phía Nam ?
[B]
Halogroup là phương pháp phân loại nhóm nhân chủng theo các đặc điểm biến dị trên nhiễm sắc thể, như nhiễm sắc thể Y-ADN ở đàn ông.
 [C]
Có thể tham khảo thêm loạt bài về nguồn gốc 12 con giáp có thể gốc từ tiếng Việt của tác giả Nguyễn Cung Thông, chẳng hạn:

http://khoahocnet.com/2014/01/27/nguyen-cung-thong-nguon-goc-viet-nam-cua-ten-goi-12-con-giap-ngo-ngua-13a/

Lưu ý: người viết chưa hề có ý kiến khẳng định hay bác bỏ thuyết của Nguyễn Cung Thông, chỉ đơn thuần là dẫn nguồn tư liệu.