huge boobs pictures hd. 3gp desi glamcore perfect goddesses in oral.

https://eporner.monster destiny blonde has a sweet teen pussy.

Kiến trúc tổng thể: Bức tranh toàn cảnh

Nguyễn Tuấn Hoa (www.pcworld.com.vn)
Phải xây dựng được thứ có thể nhìn thấu mọi thứ. Phải thực hiện kiến trúc chính phủ điện tử (CPĐT), trong một môi trường phối cảnh đa chiều để cân nhắc xem chúng gắn kết, tương tác với nhau như thế nào? Làm thế nào để có thể đi từ trạng thái hiện thời đến trạng thái đích…? Phương pháp luận về CPĐT gọi bức tranh đó là kiến trúc tổng thể (Enterprise Architecture, gọi tắt là EA).
 

Mọi tổ chức đều vận động dựa trên thông tin. Theo đó, những con người hay nhóm – thành phần cấu tạo tổ chức – đảm đương những nhiệm vụ cụ thể luôn luôn giao tiếp với nhau, thông tin cho nhau để tương tác giữa bộ phận này với bộ phận khác, người này với người khác… Chỉ như thế, tổ chức mới có thể tồn tại và phát triển.

Trong khi đó, tổ chức lại xuất hiện từ xa xưa, trước CNTT rất lâu. Và từ thời xa xưa ấy, bản chất trên đã tồn tại và sẽ tồn tại mãi mãi cùng với xã hội loài người. Vì thế, việc mô hình hóa tổ chức luôn luôn dẫn đến bộ đôi: Mô hình tổ chức (tổ chức được cấu trúc như thế nào?) và mô hình thông tin (hệ thống thông tin bên trong tổ chức được xây dựng và vận hành như thế nào?).

Mọi chuyện thay đổi khi CNTT ra đời và mở ra những viễn cảnh mới, mang đến cho tổ chức phương tiện xử lý thông tin với tốc độ rất cao, lưu trữ thông tin với khối lượng rất lớn và truyền thông tin gần như tức thì và không giới hạn về khoảng cách. Những ưu việt đó vượt xa khả năng làm việc thủ công. Chúng giúp con người thực hiện những điều mà trong thế giới thủ công chỉ là mơ ước, với các ứng dụng ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp dựa trên những nền tảng công nghệ ngày một phát triển. Vì thế, nghiên cứu ứng dụng CNTT trong một tổ chức luôn dẫn đến mô hình ứng dụng (application model – tổ chức sẽ hoạt động như thế nào trong môi trường CNTT) và mô hình công nghệ (technology model – các ứng dụng được phát triển trên nền công nghệ nào).

Tổ chức là một thực thể thống nhất, nên mọi sự thay đổi ở một thành phần bên trong luôn luôn kéo theo sự thay đổi ở tất cả các thành phần còn lại. Khi CNTT xâm nhập vào tổ chức, làm thay đổi cách thức con người hoạt động thông tin bên trong tổ chức, kéo theo thay đổi cả về mô hình tổ chức lẫn mô hình thông tin. Nói theo ngôn ngữ quản lý, việc ứng dụng CNTT (hay điện tử hóa) chắc chắn làm thay đổi các quy trình làm việc thủ công (cải cách hành chính) theo hướng tạo điều kiện tốt nhất cho CNTT phát huy những năng lực phục vụ phù hợp với khả năng tiếp thu và phát triển của tổ chức.

Tổng hợp những ý trên dẫn chúng ta đến 4 hợp phần mà tất cả các phương pháp luận về CPĐT đều thống nhất lựa chọn là: Mô hình tổ chức + Mô hình thông tin (được xây dựng trên nền móng của chiến lược CPĐT về tổ chức); Mô hình ứng dụng + Mô hình công nghệ (được xây dựng trên nền móng của chiến lược CPĐT về CNTT).

Kiến trúc tổng thể là một kế hoạch chi tiết định hướng. Nó là một bức tranh kiến trúc đa chiều, giúp người ta phân tích các mối quan hệ đan chéo giữa tất cả các chiều nhằm tìm ra các nhân tố tạo nên sự phát triển ổn định và bền vững của tổ chức.

Khung kiến trúc tổng thể

Kiến trúc của một tổ chức là một tập hợp các mô hình được dùng làm cơ sở để phân tích, giúp các nhà quản lý quyết định thực hiện những thay đổi cần thiết để đạt được mục đích và mục tiêu của tổ chức đó. Các mô hình này thực hiện vai trò giống như các bản kế hoạch chi tiết hướng dẫn và phối hợp nỗ lực của các bộ phận liên quan trong việc xây dựng mới hoặc thay đổi một tổ chức hiện tại.

Thực tiễn cho thấy trong những tổ chức lớn, các mô hình tổ chức tại những bộ phận khác nhau thường được xây dựng bởi các nhóm khác nhau. Các nhóm này thường có xu hướng tạo ra những sản phẩm kiến trúc chỉ đáp ứng yêu cầu của riêng chứ không thể áp dụng ở nơi khác, còn nếu muốn áp dụng thì phải hiệu chỉnh rất nhiều. Vì thế, khi một tổ chức muốn chuẩn hóa kết quả làm việc của tất cả các nhóm vào kiến trúc tổng thể thì biện pháp đầu tiên là thiết lập một khung kiến trúc tổng thể chung (EA).

Khó có thể xây dựng một khung EA duy nhất chung cho tất cả mọi trường hợp do sự khác nhau về lĩnh vực , trình độ quản lý, nguồn nhân lực, khả năng đầu tư, trang bị, cơ chế vận động… Từ đây, xuất hiện những cách tiếp cận khác nhau về xây dựng khung EA cho những lớp tổ chức khác nhau.

Hình 4 trụ cột của EA

Người ta ghi nhận có 5 phương pháp được áp dụng nhiều nhất và được xem là có ảnh hưởng nhất:

• TOGAF (The Open Group Architecture Framework – Khung kiến trúc nhóm mở)
• The Zachman Framework (Khung Zachman)
• FEAF (Federal Enterprise Architecture Framework – Khung kiến trúc tổng thể kiểu liên bang)
• MDA (Model Driven Architecture – Kiến trúc được điều khiển bởi mô hình)
• EUP (Enterprise Unified Process – Quy trình hợp nhất tổ chức).
Mỗi phương pháp đưa ra một khung (framework) gồm nhiều mô hình con phân tích các khía cạnh khác nhau của kiến trúc cho một lớp tổ chức phù hợp. Trong số đó, theo ý kiến cá nhân, FEAF là phương pháp có cách diễn đạt sáng sủa và dễ hiểu hơn cả.

FEAF đặt tất cả các quy trình phát triển, từ kiến trúc nghiệp vụ, kiến trúc dữ liệu, kiến trúc ứng dụng và kiến trúc công nghệ hiện thời thông qua các mô hình kiến trúc và các quá trình chuyển đổi, chuẩn hóa để đạt tới kiến trúc nghiệp vụ, kiến trúc dữ liệu, kiến trúc ứng dụng và kiến trúc công nghệ tương lai trong một khung tổng thể thống nhất.

FEAF được sử dụng nhiều trong các tổ chức có trình độ phát triển tương đối cao, nơi hiện hữu môi trường ứng dụng tương đối đồng nhất. Nếu khởi đầu từ một môi trường ứng dụng không đồng nhất (có những ứng dụng được phát triển ở các cấp độ khác nhau trong cùng một tổ chức như thường thấy ở nước ta) thì TOGAF là phương pháp được xem là phù hợp.

Trong hệ thống phương pháp luận thiết kế hệ thống thông tin đương đại, EA đóng vai trò “nhạc trưởng”. Mỗi hợp phần của EA bao gồm nhiều nội dung riêng biệt.

TOGAF dựng lên một khung kiến trúc tổng thể gồm phần lõi và các thành phần mở rộng. Khung kiến trúc tổng thể lõi bao gồm:

• Kiến trúc nghiệp vụ: Mô tả các mục tiêu hoạt động, các hoạt động, các quy trình nghiệp vụ…
• Kiến trúc dữ liệu: Xác định các quan hệ giữa các tập hợp dữ liệu, các quy trình nghiệp vụ và dữ liệu
• Kiến trúc ứng dụng: Xác định mô hình ứng dụng, giao diện người – máy, cơ chế xử lý, các quy tắc nghiệp vụ
• Kiến trúc kỹ thuật: Thể hiện các mô hình dữ liệu vật lý, thiết kế hệ thống kỹ thuật, công nghệ và các cơ chế trình diễn, thiết kế các thủ tục và cơ chế kiểm soát.

Các thành phần mở rộng gồm:
• Các tiêu chuẩn, chính sách: Xác định các tiêu chuẩn, đề xuất các chính sách cho từng bộ phận cấu thành
• Kiến trúc an ninh: Xác định các yêu cầu và giải pháp về an ninh cho toàn bộ tổ chức, đặc biệt là an ninh dữ liệu
• Kiến trúc dịch vụ: Xác định cách thức cung cấp dịch vụ của tổ chức.
Đến tháng 11/2010, trong cả nước chỉ có TP.Đà Nẵng là đã xây dựng hoàn chỉnh kiến trúc tổng thể CPĐT (Kết quả của dự án CNTT-TT TP.Đà Nẵng). Khung kiến trúc tổng thể được đề xuất cho TP.Đà Nẵng có các thành phần được mô tả trong hình.

Ngọc hình rồng ở di chỉ văn hóa Hồng Sơn Trung Quốc có gốc từ Lạc Việt ?


NGỌC HÌNH RỒNG Ở DI CHỈ VĂN HÓA HỒNG SƠN TRUNG QUỐC CÓ GỐC TỪ LẠC VIỆT ?

-FANZUNG-

 

Dẫn nhập:

Nghi án về việc người Việt “thấy người sang bắt quàng làm họ”, đã nhận bừa là dòng dõi vua Thần Nông[1], là “con rồng cháu tiên”, và “ăn cắp” hình tượng con “long” của nền văn hóa Trung Hoa về làm con “rồng” trong tiếng Việt là điều mà người viết băn khoăn lâu nay. Về cứ liệu ngôn ngữ, nhà ngôn ngữ học đương đại nổi tiếng William H. Baxter (người Mỹ) đã phục nguyên âm Hán thượng cổ của chữ Long /là b-rjoŋ, còn nhà ngôn ngữ học Trung Quốc là Trịnh Trương Thượng Phương phục nguyên b·roŋ…  tức là khá gần âm “rồng” của người Việt, chỉ cần đọc lướt tiền âm tiết theo xu hướng đơn tiết hóa của tiếng Việt là thành “rồng”. Như thế rõ ràng chính người  Hán đã “đọc trại” âm r- thời thượng cổ ra l-,  chứ không phải dân Việt học chữ “long” của người Hán trong thời Bắc Thuộc rồi đọc trại ra “rồng”, chính âm “rồng” của tiếng Việt hiện nay mới gần âm thượng cổ của chữ  Long  /hơn là tiếng Hán hiện đại. Tuy nhiên dầu sao đó cũng chỉ là cứ liệu ngôn ngữ, còn cần thêm các cứ liệu khảo cổ, phân tích di truyền nhiễm sắc thể ADN v.v. để xác minh, và đây là cứ liệu khảo cổ:

Cuối năm trước (2012, nghĩa là vừa mới trước Tết Quý Tỵ), trang Lạc Việt Văn Hóa (http://www.luoyue.net) của Trung Quốc vừa đưa lên một thông tin giật gân, phát biểu nguyên văn như sau:
红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙

“Hồng Sơn văn hóa ngọc trư long chi tổ: Cổ Lạc Việt ngọc trư long” (Tổ của ngọc trư long của văn hóa Hồng Sơn : là ngọc trư long Lạc Việt)

Văn hóa Hồng Sơn có niên đại hơn 5000 năm trước ở vùng Hồng Sơn, phía tây tỉnh Liêu Ninh, nằm ở thành phố Xích Phong, Nội Mông Cổ, núi ở khu vực này có màu đỏ nên được gọi là Hồng Sơn. Ngày nay, giới khảo cổ lấy vùng chu vi 200.000 kilomet vuông với Hồng Sơn làm trung tâm gọi chung là khu vực Văn hóa Hồng Sơn. Hiện vật khảo cổ đặc trưng nhất của nền văn hóa này là ngọc trư long tức là ngọc có đầu hình lợn, thân hình rắn, và ngọc rồng hình chữ C, một số tác giả cho đây chính là xuất phát của biểu tượng con rồng trong nền văn minh phương Đông. Lưu ý rằng ngọc rồng hình chữ C đã được Ngân hàng Hoa Hạ của Trung quốc lấy làm biểu tượng (xem: http://www.hxb.com.cn/chinese/images/logo.gif).

Xem chi tiết các hiện vật khảo cổ ngọc trư long Lạc Việt ở trang : http://www.luoyue.net/show.aspx?tid=1148 , tiếc là trang này chỉ đưa lên các hình ảnh hiện vật cùng cái tiêu đề “giật gân” ở trên mà không thấy thảo luận hay thông tin gì cả:


红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙.  Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

 红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙 . Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙. Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

 红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙. Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

 红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙

 

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙. Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

***

Các ảnh hiện vật trên đều không ghi rõ xuất xứ, riêng hình sau ghi rõ là ở huyện Long An, Quảng Tây:

隆安新发现的骆越玉猪龙

隆安新发现的骆越玉猪龙 (Long An tân phát hiện đích Lạc Việt ngọc trư long)

Về địa lý thì huyện Long An ở phía tây thành phố Nam Ninh tỉnh Quảng Tây, sát cạnh huyện Bình Quả là nơi phát hiện chữ Lạc Việt cổ niên đại 4000-5000 năm, (trước chữ giáp cốt của Trung Quốc đến hơn ngàn năm ! tham khảo: http://fanzung.com/?p=483 ). Hai huyện này chỉ cách biên giới Việt Nam gần 100km trong khi cách xa vùng văn hóa Hồng Sơn đến gần 2000km.

Bây giờ xin các bạn so sánh kiểu dáng của ngọc trư long khai quật được ở huyện Vũ Minh, giáp phía bắc thành phố Nam Ninh (http://baike.baidu.com/picview/5264786/5294561/963762/b29f8282cb95b5df6d81190a.html#albumindex=2&picindex=5) , với ngọc Rồng hình chữ C ở văn hóa Hồng Sơn:

http://g.hiphotos.baidu.com/baike/c%3DbaikeA1%2C10%2C95/sign=210fa0981a4c510fbac4b54b0932406c/faedab64034f78f0517de4a379310a55b219ebc4b7453c57.jpghttp://www.vartcn.com/art/UploadFiles/200711/20071112104823300.jpg

Bên trái màu vàng nhạt là ngọc trư long Lạc Việt, bên phải màu xanh đen là ngọc Rồng hình C Hồng Sơn. Nhìn qua thấy kiểu dáng rất giống nhau, nhưng trư long Lạc Việt dáng tròn mập và ít chi tiết sắc sảo hơn ngọc trư long Hồng Sơn, dạng tròn mập này cũng cho thấy sự chuyển tiếp từ ngọc trư long sang ngọc Rồng hình C.

Các điểm giống nhau:
– Dạng chung có hình chữ C
– Mũi rồng hơi vếch lên
– Có mào ở gáy
– Kiểu dáng mào cũng giống nhau
– Có lỗ xỏ dây nằm ngay giữa chữ C, khá cân đối ở vị trí trọng tâm.

Tham khảo thêm một số hình ngọc trư long trên mạng của TQ (có lẽ là ở Hồng Sơn, http://baike.baidu.com/view/57983.htm):

玉猪龙图片集(18张图片) . . .

 Và so sánh với ngọc hình rồng Lạc Việt (http://www.luoyue.net/show.aspx?tid=717 ) khai quật được ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây, trong cương vực của nhà nước Văn Lang của Hùng Vương theo sử Việt, nguyên tiêu đề trang đó là :

骆越龙文化中国最古老的龙文化文物集萃
(Văn hóa Rồng Lạc Việt – sưu tập văn vật của Văn hóa Rồng Trung Quốc tối cổ)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

邕江出水的新石器时代早期石龙 (Đá hình rồng thời sơ kỳ đồ đá mới, vớt được từ dưới nước ở Ung Giang)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

中国最古老的龙凤图腾刻画纹 (Tranh khắc nổi trên đá hình rồng phượng, tối cổ ở Trung Quốc)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

武鸣岩洞葬出土的C形龙玉佩 (Ngọc bội Rồng hình C khai quật trong mộ táng động đá ở huyện Vũ Minh)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

武鸣出土的C形龙玉佩 (Ngọc bội Rồng hình C khai quật từ dưới đất ở huyện Vũ Minh)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

隆安岩洞葬出土的猪龙玉佩 (Ngọc bội trư long khai quật trong mộ táng động đá ở huyện Long An)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

隆安出土的猪龙玉佩 (Ngọc bội trư long khai quật từ dưới đất ở huyện Long An)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

合浦出土的猪龙玉佩 (Ngọc bội trư long khai quật từ dưới đất ở Hợp Phố)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

合浦出土的猪龙玉佩 (Ngọc bội trư long khai quật từ dưới đất ở Hợp Phố)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

隆安出土的C形龙玉佩 (Ngọc bội Rồng hình C khai quật từ dưới đất ở huyện Long An)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

田东出土的C形龙玉佩 (Ngọc bội Rồng hình C khai quật từ dưới đất ở Điền Đông)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

左江出水的C形龙玉佩 (Ngọc bội Rồng hình C khai quật từ dưới đất ở Tả Giang)

 骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

隆安出土的猪龙玉佩 (Ngọc bội trư long khai quật từ dưới đất ở huyện Long An)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

隆安出土的猪形玉佩 (Ngọc bội trư hình, khai quật từ dưới đất ở huyện Long An)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

武鸣出土的龙形玉玦 (Ngọc khuyết hình rồng khai quật từ dưới đất ở huyện Vũ Minh)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

武鸣出土的春秋玉龙 (Ngọc rồng thời Xuân Thu, khai quật từ dưới đất ở huyện Vũ Minh)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

武鸣出土的春秋玉龙 (Ngọc rồng thời Xuân Thu, khai quật từ dưới đất ở huyện Vũ Minh)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

武鸣出土的春秋玉龙 (Ngọc rồng thời Xuân Thu, khai quật từ dưới đất ở huyện Vũ Minh)


骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

武鸣出土的春秋玉龙 (Ngọc rồng thời Xuân Thu, khai quật từ dưới đất ở huyện Vũ Minh)

骆越龙文化--中国最古老的龙文化文物集萃

横县郁江出水的战国双龙玉佩 (Ngọc bội song long thời Chiến Quốc, khai quật từ dưới nước ở Úc Giang, Hoành huyện)

Quan sát các hiện vật ngọc hình rồng Lạc Việt, chúng ta thấy có sự phát triển liên tục có hệ thống bắt đầu từ đá hình rồng thời sơ kỳ đồ đá mới, vớt được từ dưới nước ở Ung Giang có hình dạng cực kỳ thô sơ, tiến tới ngọc trư long loại thô và loại tinh, tiếp theo là ngọc rồng hình C chế tác tinh xảo hơn. Tới thời Xuân thu thì hình dạng vươn dài của rồng đã tương đối giống ngày ngay, cuối cùng là ngọc rồng “Song long” thời Chiến quốc thì căn bản đã giống như ngày nay, nếu không có giới thiệu người xem có thể nghĩ đó chỉ là con rồng thời nay với đôi chút cách điệu. Chính đặc điểm có tính hệ thống liên tục và đa dạng này đã khiến chúng ta có thể thấy rằng đây không phải là các cứ liệu khảo cổ giả tạo, các viên đá hình rồng thời sơ kỳ đồ đá cũng chỉ ra điểm khởi đầu hệ thống vốn ở ngay bản địa chứ không phải du nhập từ nơi khác đến.


[1] Người viết từng đưa lên diễn đàn viethoc.org/phorum cứ liệu là lăng Viêm Đế (Thần Nông thị) ở huyện Viêm Lăng trong khu vực Tương Giang phía nam tỉnh Hồ Nam, tức là trong phạm vi cương vực nhà nước Văn Lang theo sử Việt. Đây vốn là đất “man di”, đến khoảng thế kỷ 4 trước CN mới bị nước Sở thôn tính, nằm rất xa với vùng lưu vực Hoàng Hà nơi phát nguyên của Hán tộc.

Thượng cổ Hán ngữ – 上古汉语

Thượng cổ Hán ngữ tức là Hán ngữ thời Chu

(http://www.baike.com/wiki/%E4%B8%8A%E5%8F%A4%E6%B1%89%E8%AF%AD)

Tại hạ tạm đưa nguyên văn chữ Hán lên blog, có dịp rảnh sẽ dịch dần … :) 

上古汉语指的是周朝时期的汉语,无声调说,有次要音节说。

Thượng cổ Hán ngữ là thuật ngữ chỉ Hán ngữ thời nhà Chu, không có thanh điệu và có tiền âm tiết (âm tiết thứ yếu).

上古汉语指的是周朝时期的汉语。上古汉语的构拟不建立在历史比较法的基础上,其原则和印欧语完全不同。上古音研究的基本方法上从中古汉语(《切韵》音系)倒推上古音 。在中古音的基础上,可以用《诗经》的韵部和谐声系列来推测古代的发音,还可以用汉语方言的存古特征和一些外部证据(汉藏语系壮侗语系苗瑶语系等语言中的汉语同源词借词)。
Thượng cổ Hán ngữ tức là Hán ngữ thời Chu. Phục nguyên Thượng cổ Hán ngữ không thể đặt cơ sở trên phương pháp so sánh lịch sử, nguyên tắc khác nhiều với ngôn ngữ Ấn Âu.  Phương pháp cơ bản để nghiên cứu Thượng cổ âm là dựa theo Trung cổ Hán ngữ (là hệ thống âm vận của sách “Thiết Vận”) mà suy ngược ra âm thượng cổ. Trên cơ sở âm Trung cổ có thể dùng hệ thống vận bộ và sự hài thanh của các bài “Kinh Thi” mà suy luận ra phát âm cổ đại. Ngoài ra có thể suy luận từ các phương ngôn Hán ngữ còn bảo tồn các đặc trưng cổ và các cứ liệu so sánh với các ngôn ngữ họ hàng (các từ đồng nguyên hoặc vay mượn trong Hán Tạng ngữ hệ, Tráng Đồng ngữ hệ, Miêu Dao ngữ hệ).
(Chủ thớt thắc mắc: Theo GS Nguyễn Ngọc San thì khoảng 6000 năm trước toàn bộ vùng từ Trường Giang về phía Nam còn nói chung 1 thứ ngôn ngữ Nam Á, mà một trong các đại biểu chính hiện nay là nhóm Môn-Khmer, thế mà trang web của người TQ này chỉ đề cập quan hệ của các ngữ hệ Hán Tạng, Tráng Đồng, Miêu Dao. Phải chăng người TQ có tư tưởng kỳ thị nhóm Môn-Khmer cụ thể là người Việt, coi đó là giống dân “man di của man di”, nên đã thẳng tay gạch bỏ  mối quan hệ giữa ngữ hệ Mon-Khmer với Hán-Tạng khi viết bài này ?)   

韵部


汉 语发音从《诗经》到南北朝已经发生了重大的变化,南北朝人读先秦文献的时候,发现有许多押韵不和谐的地方了。当时人对《诗经》的注解反映他们遇到的困难: 当《诗经》的韵脚不押韵时,他们牵强的改其中一个字的音使其押韵,认为这样读起来更加和谐。例如:《诗经·邶风·燕燕》“燕燕于飞,上下其音,之子于归, 远送于南”中的“音”和“南”两个字押韵。北梁人沈重在《毛诗音》中指出:“南:协句,宜乃林反”。他用反切的方法标注他认为正确的读音(用普通话读,他 把“南”字的方音改成nín)。这个方法叫做“协韵”。

隋朝人陆德明认为不应该使用协韵法,因为他认为古代人押韵不严谨,没有必要改正《诗经》的读音。他指出:“沈云协句宜乃林反,今谓古人韵缓,不烦改字”。

宋朝朱熹等 人继承了南北朝的协韵法(亦稱「-{叶音}-」),并非常系统的用这个方法来改正《诗经》和《楚辞》里所谓“不和谐”的韵脚字的读音。他们认为,古人对韵 脚字可以临时改读,他们还没有发现随着时间的推移发音变化的原则,他们以为先秦时代的古人的发音和宋朝人一样。但是,在这个时代,吴棫在 《毛诗叶韵补音》等著作中发现《诗经》的押韵现象是有规则的,他通过对韵脚字系统的考察,把中古韵类归纳成九个韵部。虽然吴棫缺乏明确的历史概念(他把唐 宋和先秦的韵脚字混为一谈)他的研究迈出了進入正确的路线的第一步,为后代的学者开辟了研究古音的新途径。除了他以外,郑庠、项安世、程迥等人进行了古音 的研究。

最早用科学的方法研究上古音的学者是顾炎武。他继承了陈第的想法,认为“古诗无叶音”, 并旨在恢复古代汉语的发音(“复古”)。他发明了“离析唐韵”的研究方法:把《诗经》的韵脚整理起来,分析这些字的押韵行为。在《诗经》押韵的字通常属于 《广韵》的不同韵类,这是因为这些字的韵母在上古音相近或者相同,后来到中古音变得不一样。但是,上古音的押韵行为有理可寻,可以按照这些押韵行为把中古 韵类分配成几个组,这些组叫做“韵部”,同一个韵部的中古韵类可以在《诗经》押韵,但是有些中古韵类同时出现在几个不同韵部。顾炎武把韵类归纳成十个韵 部。虽然他对韵部的划分不够严谨,忽略了许多重要的对立,但是他建立了上古音研究的奠基,一直到现在,他的“离析唐韵”是上古音构拟的原则之一。

清朝学 者构拟古音的方法与现代语言学家不同。他们当时认为,属于同一个韵部的中古韵类在上古时代有相同的发音,后来其中一个韵类(“古本韵”)保留了原始的发 音,其他的韵类发生了变化(“变韵”)。这个构拟方法有严重的缺陷。第一,没有解释“变韵”发生变化的条件:按照语言学的定论,语音变化有一定的规则,如 果某些字在上古时代有完全相同的读音,没有理由分化出来(除非发生了方言混合)。第二,我们现在知道,上古汉语的一些韵部的发音和与其对应的任何一个中古韵类的发音都不一样,没有一个中古韵母保留了原始的发音(没有“古本韵”)。例如:歌部构拟成

  • -ar或者*-aj(还有元音长短等特征),和来自歌部的中古韵类如歌韵(中古*-a),鱼韵(中古*-ø),马韵(中古*-ɣa),模韵(中古*-o)的发音都不相同。

上古汉语无声调说


1954年法国学者奥德里库尔(Haudricourt)通过历史比较法的考察,发现越南语的声调是已经脱落了的韵尾的痕迹,这些韵尾在比较原始的亲属语言中(如克木语)仍然存在。他发现,越南话的上声来自喉塞音,去声来自-s。由于越南话和汉语的声调系统很相似,他提出汉语的声调有同样的来源,上古汉语没有声调。

这个假设得到了很多印证,最明显的一个是可以自然的解释“阴入韵对转”:

Giả thuyết về việc Hán Ngữ thượng cổ không có thanh điệu.
Kết luận này do học giả người Pháp Haudricourt khởi xướng dựa trên nghiên cứu sự đối ứng thanh điệu của tiếng Việt (Nam) trong các từ gốc Môn-Khmer với âm cuối cổ xưa của các từ đó còn lưu giữ trong các ngôn ngữ bà con gốc Môn-Khmer: thượng thanh đối ứng các âm cuối tắc thanh hầu -?, khứ thanh đến từ các âm cuối -s. Kết luận này hiện đã được thừa nhận rộng rãi.

上古汉语有次要音节说


以前普遍认为上古汉语是一种以单音节为主的语言,每一个汉字代表一个音节。但是近几年,中国学者潘悟云和法国学者沙加尔不谋而合达到了一致的结论:上古汉语不仅有複辅音,也有次要音节,汉朝以前,一个汉字可以代表两个音节:次要音节和主要音节,第一个音节是弱化音节,其主元音为ə,没有韵尾。这个结论目前还存在争议。

Giả thuyết về việc Hán ngữ thượng cổ  có tiền âm tiết (âm tiết phụ):
Xưa nay người ta cho là Hán ngữ thượng cổ đã đơn âm hóa triệt để, nhưng gần đây có giả thuyết của Phan Ngộ Vân và Sa Gia Nhĩ (Laurent Sagart) cho rằng Hán ngữ thượng cổ vẫn có cả phụ âm kép lẫn tiền âm tiết (âm tiết phụ).
Giả thuyết này còn đang tranh luận.

上古汉语的形态变化


由 於汉字系统不能直接反映上古汉语的形态变化,因??里出现的异读现象。例如:“解”,有几个读音:中古「古隘切」(見母开口佳韵上声,普通话jiě)和中 古「胡買切」(匣母开口佳韵上声,普通话xiè);第一个有清声母(见母,中古k-)有主动意义,是及物动词,第二个有浊声母(匣母,中古ɦ)有被动意 义:声母的清浊和动词的主动/被动性有直接的关系。有些专家认为是某种前缀导致动词声母的浊化。

有时候,不同汉字可以代表同一个词根的几 个形态,例如:“见”(中古”古電切”見母开口先韵去声)代表主动意义,“现”(中古”胡甸”匣母开口先韵去声)代表被动意义,这对动词类似于上 述“解”字的两个读音,但与之不同的是,这里使用两个符号来区分主动和被动的读音。